Chủ Nhật, 24 tháng 1, 2016

TN-03-C



HIỂU & SỐNG TIN MỪNG


Chúa Nhật thứ 3 Thường Niên
(Năm C − ngày 24-1-2016)




ĐỌC LỜI CHÚA
 

·    Nkm 8,2-4a.5-6.8-10: (9) Tổng trấn Nêhêmi, thầy tế lễ Exơra tuyên bố: «Hôm nay là một ngày thánh dành cho Thượng Đế Hằng Hữu».

·    1Cr 12,12-30: (13) Tất cả chúng ta, dầu là Do-thái hay Hy-lạp, nô lệ hay tự do, đều đã chịu phép rửa trong cùng một Thần Khí để trở nên một thân thể, và đã được đầy tràn một Thần Khí duy nhất. (27) Vậy anh em chính là thân thể Đức Ki-tô, và mỗi người là một bộ phận.

·    TIN MỪNG: Lc 4,14-21

Đức Giêsu tại Nadarét (// Mt 13,53-58; Mc 6,1-6)

 (14) Được quyền năng Thần Khí thúc đẩy, Đức Giêsu trở về miền Galilê, và tiếng tăm Người đồn ra khắp vùng lân cận. (15) Người giảng dạy trong các hội đường, và được mọi người tôn vinh.

 (16) Rồi Đức Giêsu đến Nadarét, là nơi Người sinh trưởng. Người vào hội đường như Người vẫn quen làm trong ngày sabát, và đứng lên đọc Sách Thánh. (17) Họ trao cho Người cuốn sách ngôn sứ Isaia. Người mở ra, gặp đoạn chép rằng: (18) Thần Khí Chúa ngự trên tôi, vì Chúa đã xức dầu tấn phong tôi, để tôi loan báo Tin Mừng cho kẻ nghèo hèn. Người đã sai tôi đi công bố cho kẻ bị giam cầm được tha, cho người mù được sáng mắt, trả lại tự do cho người bị áp bức, (19) công bố năm hồng ân của Chúa.

 (20) Đức Giêsu cuộn sách lại, trả cho người giúp việc hội đường, rồi ngồi xuống. Ai nấy trong hội đường đều chăm chú nhìn Người. (21) Người bắt đầu nói với họ: «Hôm nay đã ứng nghiệm lời Kinh Thánh quý vị vừa nghe».

CHIA SẺ

Câu hỏi gợi ý:

1.   Sứ mạng của Đức Giêsu và các ngôn sứ là gì? Có phải sứ mạng đó chỉ liên quan đến tâm linh và tôn giáo, không liên quan gì đến cuộc sống đời thường của con người?

2.   Sứ mạng của Đức Giêsu và các ngôn sứ có bao trùm những lãnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội không? Có thể tránh được sự bao trùm ấy không? Tại sao?

3.   Người Kitô hữu có bổn phận phải tranh đấu cho quyền sống và quyền sống cho ra con người không? Tránh né việc tranh đấu ấy có phải là thái độ đúng đắn không?

Suy tư gợi ý:

1.   Sứ mạng của Đức Giêsu và các ngôn sứ

Trong bài Tin Mừng hôm nay, Đức Giêsu đọc sách của Isaia nói về sứ mạng ngôn sứ của ông. Đức Giêsu cũng áp dụng sứ mạng ấy cho chính Ngài qua câu: «Hôm nay đã ứng nghiệm lời Kinh Thánh quý vị vừa nghe» (Lc 4,21). Đức Giêsu hay các ngôn sứ được «Thiên Chúa xức dầu tấn phong» và được Thần Khí Chúa ở cùng, để làm gì? Chắc chắn không phải chỉ để tế lễ hay đọc kinh cầu nguyện, cũng không phải chỉ để lo những chuyện thuần túy tôn giáo như «loan báo Tin Mừng cho kẻ nghèo hèn», mà còn để làm cả những công việc xã hội, việc ngoài đời, như «cho người mù được sáng mắt», cho «kẻ bị giam cầm được tha», «trả lại tự do cho người bị áp bức» (Lc 4,18). Sách Châm ngôn cũng nói lên một trong những công việc quan trọng mang tính xã hội của người ngôn sứ: «Con hãy mở miệng nói thay cho người câm, và biện hộ cho mọi người bất hạnh. Hãy mở miệng phán xử thật công minh, biện hộ cho những kẻ nghèo nàn khốn khổ» (Cn 31,8-9).

Thật vậy, cuộc đời của Đức Giêsu và của các tông đồ đầy dẫy những công việc như: chữa lành đủ mọi chứng bệnh (x. Mt 4,23; 8,1-16), trừ khử đủ mọi thứ quỉ (Mt 8,28-34; 9,32-34), hóa bánh ra nhiều để lo cho người đói (Mt 14,15-21; 15,32-38)… Sách Công Vụ Tông đồ nói về Đức Giêsu: «Đi tới đâu là Người thi ân giáng phúc tới đó» (Cv 10,38). Việc thi ân giáng phúc của Ngài không phân biệt lãnh vực nào là đạo, lãnh vực nào là đời. Gioan Tẩy Giả – cũng là một ngôn sứ – ngoài việc dọn đường cho Đức Giêsu, rao giảng sự hối cải, ông còn làm những công việc mang tính xã hội như lên tiếng cảnh cáo vua Hêrốt không được lấy vợ của anh ruột mình, bất chấp việc cảnh cáo ấy có thể dẫn ông vào tù hay mất mạng (x. Mt 14,3-12). Các ngôn sứ thời trước, ngoài những công việc mang tính tâm linh và tôn giáo, cũng đã từng dấn thân vào những việc xã hội như lên tiếng cảnh cáo vua cũng như toàn dân chúng về những tội ác của họ.

2.   Đức Giêsu đến để giải phóng con người toàn diện

Ta thấy sứ mạng của Đức Giêsu là đến để giải phóng con người một cách toàn diện, cả tâm linh lẫn thể xác, cả cá nhân lẫn xã hội, bao hàm cả ba lãnh vực chính yếu của Kitô giáo là: chân lý, công lý và tình thương (x. Mt 23,23). Về tâm linh, Ngài giải phóng con người khỏi ách thống trị của tội lỗi, của lề luật, của thói hư tật xấu, khỏi tính yếu đuối của bản tính con người. Thánh Phaolô viết: «Chính để chúng ta được tự do mà Đức Kitô đã giải thoát chúng ta» (Gl 5,1; x. Rm 6,18; Cl 1,13). Ngài cũng đến để giải phóng con người về mặt thể chất: «Ai sẽ giải thoát tôi khỏi thân xác phải chết này? Tạ ơn Thiên Chúa, nhờ Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta» (Rm 7,24-25); «Anh em đã chết cùng Đức Kitô và được giải thoát khỏi các yếu tố của vũ trụ» (Cl 2,20). Về mặt xã hội, Ngài đến để thực hiện một xã hội lý tưởng là Nước Trời, không chỉ tại thiên mà còn tại thế, trong đó mọi người đối xử với nhau bằng chân lý, công lý và tình thương.

Vì thế, từ khi thành lập đến nay, Giáo Hội vẫn tiếp nối sứ mạng của Đức Giêsu là cứu độ con người một cách toàn diện. Chủ trương đó phần nào được diễn tả trong kinh «Thương người có 14 mối», trong đó không chỉ có 7 mối về linh hồn mà còn có 7 mối về thể xác. 7 mối về thể xác rất cụ thể là: cứu giúp những kẻ thiếu thốn vật chất (thiếu ăn, thiếu uống, thiếu mặc, thiếu chỗ ở…); an ủi, giúp đỡ và chữa lành những kẻ ốm đau bệnh tật; thăm viếng và tìm cách giải phóng những kẻ bị giam cầm một cách oan ức hoặc bị làm nô lệ; giúp kẻ chết trong cảnh nghèo khổ được chôn cất tử tế. Tất cả đều nhằm giúp cho mọi người – đặc biệt những kẻ nghèo khổ – được sống và chết xứng với phẩm giá cao trọng của con người, là con cái và là hình ảnh của Thiên Chúa.

3.   Người Kitô hữu phải bảo vệ quyền sống-cho-ra-người

Theo gương Đức Giêsu, tiếp tục thực hiện sứ mạng toàn diện của Ngài, nhiều Kitô hữu đã tranh đấu rất mạnh, rất hăng hái để bảo vệ sự sống, chẳng hạn chống phá thai, chống ngừa thai theo những phương pháp trái tự nhiên, v.v... Điều đó thật đáng khích lệ! Nhưng phần còn lại cũng rất quan trọng – là làm cho sự sống mà mình đã bảo vệ, được sống cho xứng với phẩm giá con người – thì rất nhiều Kitô hữu lại coi nhẹ hoặc không đặt nặng. Như thế có khác nào «đánh trống bỏ dùi», «đem con bỏ chợ», «đầu voi đuôi chuột»? Thử hỏi: bảo vệ cho các thai nhi được quyền sống trên đời, nhưng lại không bảo vệ cho chúng quyền được sống hạnh phúc, sống đúng với phẩm giá con người, thì việc bảo vệ sự sống cho chúng có ích lợi gì? Ngoài việc bảo vệ sự sống, ta còn có bổn phận phát triển sự sống, để sống có chất lượng. Đừng để những thai nhi mà chúng ta cứu sống phải sống bất hạnh đến nỗi chúng phải than trách ta, những kẻ cứu sống chúng: «Thà để chúng tôi đừng sinh ra thì hơn!», «Tranh đấu cho chúng tôi sinh ra làm gì nếu sau đó lại để chúng tôi lâm vào cảnh lầm than khổ sở thế này?»

Như vậy, tranh đấu cho sự sống là điều rất tốt, nhưng thiết tưởng tranh đấu cho nhân quyền, tức quyền được sống-cho-ra-người, xứng với phẩm giá con người còn quan trọng, cần thiết và tốt đẹp hơn. Nhưng tiếc thay, khá nhiều người chủ trương bảo vệ sự sống lại quên hẳn cái điều còn quan trọng hơn cả việc bảo vệ sự sống!

4.   Phải tranh đấu cho công lý

Muốn mọi người được sống đúng phẩm giá của con người, xứng với địa vị của con cái Thiên Chúa, chúng ta phải loại trừ mọi hình thức bất công trong xã hội. Hiện nay, trong xã hội, sự xuất hiện hay sự thịnh vượng của người này có thể gây khó khăn hay làm giảm bớt quyền lợi của người kia. Vì thế, để được thuận lợi cho mình mọi mặt, người ta tìm đủ mọi cách để tước đoạt hoặc giảm thiểu quyền sống và quyền sống-cho-ra-người của nhau. Vì thế, muốn mọi người được sống đúng với phẩm giá của con người, phải có những người tranh đấu cho quyền ấy. Những kẻ đang tước đoạt quyền làm người của kẻ khác hầu như không bao giờ tự động trả lại quyền ấy cho người bị tước đoạt cả. Họ chỉ trả lại quyền đó khi chúng ta hoặc chính người bị tước đoạt tranh đấu đòi buộc họ phải trả lại. Chỉ dùng cầu nguyện hoặc lời năn nỉ van xin để kẻ ác tự động trả lại sự công bằng cho mọi người quả là một ảo vọng. Nếu «Đức tin không có việc làm là đức tin chết» (Gc 2,17.26) thì tương tự như vậy, lời cầu nguyện xuông không đi đôi với hành động không hẳn là lời cầu nguyện chân thành. Các tu sĩ trong các đan viện cầu nguyện rất nhiều, nhưng đan viện nào cũng có những bảng đề «Ora et Labora» (Cầu nguyện và Làm việc / Cầu nguyện và Hành động), ngụ ý hai việc ấy phải đi đôi với nhau. Cầu nguyện phải đi đôi với hành động, và hành động cũng phải đi đôi với cầu nguyện.

Muốn cho mọi người được sống đúng với phẩm giá của mình, thiết tưởng chúng ta phải tranh đấu mới được, dù là tranh đấu trong ôn hòa, trật tự. Việc tranh đấu cho quyền sống-cho-ra-người cũng phải hăng hái và hữu hiệu như chúng ta đã từng tranh đấu để bảo vệ sự sống vậy! Là người Kitô hữu, được thúc đẩy bởi đức ái Kitô giáo, chúng ta có bổn phận phải tranh đấu cho mọi người có quyền sống và quyền sống-cho-ra-người. Muốn thế, phải lên tiếng bảo vệ công lý, chống lại những cơ chế phát sinh bất công, nghèo khổ, đồng thời cổ võ mọi người – mà trước hết là chúng ta – hãy sống yêu thương và đùm bọc lẫn nhau.

5.   Tranh đấu như thế có hợp với tinh thần Kitô hữu không?

Việc tranh đấu cho quyền làm người và quyền sống-cho-ra-người như thế tất nhiên ít nhiều phải liên quan tới chính trị. Các ngôn sứ của Thiên Chúa không hề chủ trương làm chính trị. Nhưng khi thực hiện sứ mạng của mình, là làm chứng cho chân lý, công lý và tình thương, các ông không ngại ngùng khi việc làm chứng ấy có dính líu đến những vấn đề chính trị, hay mang tính cách chính trị. Việc lên tiếng hay làm chứng cho chân lý, công lý và tình thương trong xã hội, làm sao tránh được chuyện liên can đến chính trị? cũng như làm sao tránh được chuyện liên can đến văn hóa, xã hội, kinh tế…? Tất cả mọi vấn đề trong xã hội con người đều liên quan đến nhau một cách chặt chẽ. Không thể làm một việc gì trong xã hội mà không bị liên can đến những vấn đề ấy! Không muốn liên can đến những vấn đề ấy thì làm sao lên tiếng hay làm chứng cho chân lý, công lý và tình thương trong xã hội được? Muốn vô can thì chỉ có nước là im lặng, bất động, không nói không làm gì cả. Người muốn vô can trong những chuyện ấy chắc chắn không thích hợp với sứ mạng ngôn sứ!

Một cách tương tự, các ngôn sứ không chủ trương làm mất lòng ai, hay làm ai ghét mình, nhưng nếu vì sứ mạng mà phải làm mất lòng, phải nên cớ cho người ta ghét, thì cũng đành phải chấp nhận. Chẳng lẽ vì sợ làm mất lòng, sợ bị người ta ghét mà mình đành lỗi sứ mạng của mình?! Phải chăng người ngôn sứ được miễn thi hành sứ mạng của mình khi việc thi hành sứ mạng ấy có liên can đến chính trị? Đức Giáo hoàng đương kim Phanxicô từng dạy: «Người Công giáo tốt là người biết tham gia chính trị» (bài giảng lễ ngày 16 tháng 9, 2013 tại nhà nguyện Santa Marta). Tham gia chính trị ở đây không phải để tranh giành địa vị, quyền bính cho mình, mà để có những phương tiện hữu hiệu làm cho xã hội trở nên công bình hơn, quyền sống và sống-cho-ra-người được tôn trọng hơn, và người dân được sống an vui hạnh phúc hơn.

CẦU NGUYỆN

Lạy Cha, nhiều khi chúng con coi những gì liên quan đến chính trị như những điều kỵ húy, như thể chúng phản lại tinh thần Kitô hữu. Thực ra chúng con không thể tránh được sự liên quan ấy khi chúng con làm theo tiếng lương tâm, khi chúng con bảo vệ chân lý, công lý và tình thương. Nhiều khi chúng con coi chuyện tránh né những vấn đề chính trị còn quan trọng hơn cả việc tuân giữ luật tối thượng của Thiên Chúa là luật yêu thương: chúng con sẵn sàng bỏ thi hành luật Chúa khi việc thi hành này có liên quan đến chính trị! Xin cho chúng con ý thức được quan niệm sai lầm của mình và quyết tâm sửa đổi. Amen.  

(Nguyễn Chính Kết)


Chủ Nhật, 17 tháng 1, 2016

TN-02-C



HIỂU & SỐNG TIN MỪNG


Chúa Nhật thứ 2 Thường Niên
(Năm C − ngày 10-1-2016)


ĐỌC LỜI CHÚA

·     Is 62,1-5: (2) Muôn dân sẽ được chiêm ngưỡng đức công chính của ngươi, mọi đế vương sẽ ngắm nhìn vinh quang ngươi tỏ rạng. Người ta sẽ gọi ngươi bằng tên mới, chính là tên miệng Đức Chúa đặt cho.

·     1 Cr 12,4-11: (4) Có nhiều đặc sủng khác nhau, nhưng chỉ có một Thần Khí. (11) Chính Thần Khí duy nhất ấy làm ra tất cả những điều đó và phân chia cho mỗi người mỗi cách, tuỳ theo ý của Người.



·     TIN MỪNG: Ga 2,1-11

Tiệc cưới Cana

 (1) Ngày thứ ba, có tiệc cưới tại Cana miền Galilê. Trong tiệc cưới có thân mẫu Đức Giêsu. (2) Đức Giêsu và các môn đệ cũng được mời tham dự. (3) Khi thấy thiếu rượu, thân mẫu Đức Giêsu nói với Người: «Họ hết rượu rồi». (4) Đức Giêsu đáp: «Thưa bà, chuyện đó can gì đến bà và tôi? Giờ của tôi chưa đến». (5) Thân mẫu Người nói với gia nhân: «Người bảo gì, các anh cứ việc làm theo».

 (6) Ở đó có đặt sáu chum đá dùng vào việc thanh tẩy theo thói tục người Do thái, mỗi chum chứa được khoảng tám mươi hoặc một trăm hai mươi lít nước. (7) Đức Giêsu bảo họ: «Các anh đổ đầy nước vào chum đi!» Và họ đổ đầy tới miệng. (8) Rồi Người nói với họ: «Bây giờ các anh múc và đem cho ông quản tiệc». Họ liền đem cho ông. (9) Khi người quản tiệc nếm thử nước đã hoá thành rượu (mà không biết rượu từ đâu ra, còn gia nhân đã múc nước thì biết), ông mới gọi tân lang lại (10) và nói: «Ai ai cũng thết rượu ngon trước, và khi khách đã ngà ngà mới đãi rượu xoàng hơn. Còn anh, anh lại giữ rượu ngon mãi cho đến bây giờ». (11) Đức Giêsu đã làm dấu lạ đầu tiên này tại Cana miền Galilê và bày tỏ vinh quang của Người. Các môn đệ đã tin vào Người. (12) Sau đó, Người cùng với thân mẫu, anh em và các môn đệ xuống Caphácnaum và ở lại đó ít ngày.

CHIA SẺ

Câu hỏi gợi ý:

1.    Hôn nhân hay bậc sống đời gia đình – cùng với những vui thú, trách nhiệm, vất vả của nó – có phải là một lối sống được Thiên Chúa mong muốn và chúc lành không? Hay đó là một bậc sống thấp hèn?

2.    Trường hợp đám cưới tại Cana, nhờ sự can thiệp cứu độ của Đức Giêsu, sự thiếu rượu cuối cùng lại biến thành có rượu mà rượu ấy lại còn ngon hơn rượu trước, khiến cho đám cưới trở nên tốt đẹp hơn dự tính. Điều đó hàm ý nghĩa gì khi có sự cứu chữa hay can thiệp của Thiên Chúa?

3.    Vai trò của Đức Mẹ trong bối cảnh này quan trọng thế nào? Sự thường trong hoàn cảnh này, nếu không có Đức Mẹ, thì Chúa Giêsu có ra tay cứu chữa không?

4.    Lý do gì khiến Đức Mẹ nhận ra họ thiếu rượu? Mẹ có nhậy bén trước nhu cầu của người khác không? Tại sao Mẹ lại nhậy bén như vậy?




Suy tư gợi ý:

1.   Đức Giêsu tham dự tiệc cưới và cứu chữa thế kẹt cho đám cưới

Ngay từ khởi thủy, «Thiên Chúa sáng tạo con người có nam có nữ» (St 1,27), để từng cặp nam nữ sống thân thiện yêu thương nhau, hiệp nhất với nhau nên một thành vợ chồng, đến độ «cả hai trở thành một xương thịt» (St 2,24). Nhờ sự hiệp nhất tuyệt vời đó, hai vợ chồng được hạnh phúc và yêu thương nhau mãi mãi. Thiên Chúa muốn họ sống với nhau thành một tổ ấm, một gia đình, để yêu thương nhau, nâng đỡ nương tựa nhau, xây dựng hạnh phúc cho nhau, và để sinh con cái hầu duy trì nhân loại đến muôn đời. Và họ được vinh dự cộng tác với Ngài trong công cuộc tiếp tục sáng tạo con người. Đó là điều hết sức tốt đẹp, cao cả và thánh thiện, nằm trong kế hoạch khôn ngoan của Thiên Chúa.

Vì thế, đời sống hôn nhân hay gia đình nằm trong kế hoạch đầu tiên của Thiên Chúa, tức kế hoạch sáng tạo. Do đó, ơn gọi sống đời hôn nhân và gia đình là một ơn gọi hết sức cao quí. Chính vì thế, phép lạ mở đầu cuộc đời công khai của Chúa Giêsu, là phép lạ dành cho tiệc cưới Cana. Cả Đức Giêsu, Đức Maria và các môn đệ của Ngài cùng tham dự tiệc cưới này. Điều đó nói lên rằng Thiên Chúa – qua con người Đức Giêsu – đã đánh giá bậc sống hôn nhân gia đình rất cao quí, rất thánh thiện, đáng được ủng hộ và chúc phúc. Như vậy, sự kết hợp giữa người nam và người nữ, tức bậc sống hôn nhân, đã được chính Thiên Chúa thành lập khi trao bà Eva cho ông Adam, để cả hai trở nên vợ chồng, nghĩa là «trở thành cùng một xương thịt» với nhau (St 2,24). Sự kết hợp toàn vẹn cả tinh thần lẫn thể chất này khiến họ không còn phải che dấu nhau điều gì, đã trở nên một trong những nguồn hạnh phúc tuyệt vời của cả hai vợ chồng.

Có điều đáng tiếc là kế hoạch đầu tiên này đã bị tội nguyên tổ làm hư hỏng, khiến những gì thật tốt đẹp ban đầu như tình yêu, tính dục, sự trần truồng nguyên thủy, v.v... đã bị con người hư hỏng, ích kỷ lạm dụng, biến chúng thành những nguồn tội lỗi, xấu ác: tà dâm, ngoại tình, khiêu dâm, ghen tương, phá thai, v.v... Và hậu quả tai hại của tình trạng này thật khôn lường. Vì thế, do yêu thương con người vô hạn, Thiên Chúa đã thiết lập một kế hoạch thứ hai, đó là kế hoạch cứu chuộc, do Ngôi Hai Thiên Chúa thực hiện qua Đức Giêsu với sự cộng tác của Giáo Hội do Ngài thành lập. Ơn gọi linh mục và tu sĩ nằm trong kế hoạch cứu chuộc này. Trong kế hoạch cứu chuộc này, theo suy nghĩ thần học của Giáo Hội, thì chính trong tiệc cưới Cana này, Đức Giêsu đã lập bí tích hôn nhân để sửa chữa lại tình trạng hôn nhân tốt đẹp mà Thiên Chúa đã thiết lập khi tạo dựng con người nhưng đã bị tội nguyên tổ làm hư hỏng.

2.   Kế hoạch cứu chuộc làm cho kế hoạch sáng tạo của Thiên Chúa thành công tốt đẹp hơn

Trong đám cưới, rượu được đưa ra ban đầu chắc chắn cũng là loại rượu ngon, ngon nhất trong khả năng kinh tế của gia đình đôi tân hôn. Nhưng sự trục trặc đã xảy ra khiến cho nếu không có sự can thiệp cứu chữa của Chúa Giêsu, gia đình đôi tân hôn sẽ bị mất mặt hay mang tiếng, và đám cưới sẽ mất vui đi rất nhiều. Nhưng chính nhờ có sự trục trặc đó mà Đức Giêsu mới ra tay cứu chữa. Và một khi Ngài ra tay cứu chữa thì bữa tiệc lại trở nên vui hơn, tốt đẹp hơn, hơn cả khi không có trục trặc xảy ra. Rượu sau này là loại rượu ngon hơn, chắc chắn khiến khách dự tiệc vui hơn, uống được nhiều hơn, và hài lòng hơn bình thường rất nhiều. Điều này có một ý nghĩa rất thâm sâu.

Mc tương tự, công trình sáng tạo của Thiên Chúa hết sức tốt đẹp. Nhưng rồi có sự trục trặc xảy ra do tội lỗi con người. Nhưng sự cứu chuộc của Chúa Giêsu không phải chỉ là sửa chữa cho tình trạng đó đỡ xấu đi, mà còn làm cho kết quả cuối cùng tốt đẹp hơn so với khi không xảy ra trục trặc nào. Chính vì thế, trong lễ đêm Phục sinh, Giáo Hội đã không ngần ngại tuyên bố: tội nguyên tổ là một tội hồng phúc. Vì chính nhờ có tội đó mới có kế hoạch cứu chuộc. Và theo sự khôn ngoan và toàn năng toàn ái của Thiên Chúa, chắc chắn kế hoạch cứu chuộc này không chỉ sửa chữa lại kế hoạch sáng tạo đã bị hư hỏng, mà còn làm cho kế hoạch sáng tạo ấy thành công mỹ mãn, tốt đẹp hơn lên gấp bội. Có hành xử như thế, Thiên Chúa của chúng ta mới đúng là Thiên Chúa cao cả vĩ đại, đầy quyền năng. Và chỉ Ngài mới có thể làm cho điều xấu nhất trở nên tốt nhất mà thôi. Đó chính là lý do để người Kitô hữu luôn luôn sống hân hoan và tràn đầy hy vọng vào tương lai.

Bình thường, khi con người sửa chữa một điều gì, thì tình trạng sau khi sửa chữa sẽ không còn tốt bằng tình trạng nguyên thủy. Nhưng đối với vị Thiên Chúa toàn năng và toàn ái của chúng ta, chắc chắn Ngài sẽ không để cho sự cám dỗ của Satan tại vườn Địa đàng thành công ở chỗ là cho kế hoạch tạo dựng của Ngài trở nên xấu đi mặc dù đã được sửa chữa bằng kế hoạch cứu chuộc. Để làm cho Satan hoàn toàn thất bại, Ngài phải làm sao để kết quả của kế hoạch cứu chuộc phải trở nên tốt đẹp hơn cả kế hoạch nguyên thủy tức kế hoạch sáng tạo.

3.   Sự đồng công của Đức Mẹ trong công việc của Chúa Giêsu

Sự hiện diện của Chúa Giêsu, Đức Mẹ và các môn đệ, và sự can thiệp đặc biệt của Ngài để cứu nguy cho đám cưới ấy là một dấu hiệu hết sức ý nghĩa. Cuộc hôn nhân hay đám cưới (vốn thuộc kế hoạch thứ nhất) đã lâm vào tình trạng nguy khốn (hình ảnh của sự trục trặc gây ra do tội nguyên tổ) đã được Chúa Giêsu cứu chữa một cách hết sức tốt đẹp (kế hoạch cứu chuộc của Thiên Chúa đã thành công).

Sự cứu chữa ấy có sự đóng góp hết sức quan trọng của Mẹ Maria: Chúa Giêsu đã thực hiện sự cứu chữa ấy theo yêu cầu đầy lòng thương người của Mẹ mình. Trong công việc cứu chữa đám cưới này, Đức Mẹ đã tỏ ra tư cách của mình là người Đồng Công Cứu Chuộc với Chúa Giêsu một cách hết sức rõ ràng và cụ thể. Công việc chính yếu là do Chúa Giêsu, nhưng nếu không có Mẹ Maria thì sự cứu chữa ấy có thể đã không xảy ra.

Người Kitô hữu cần ý thức hơn về vai trò rất quan trọng của Mẹ Maria trong việc nên thánh và sống đời Kitô hữu của mình. Trong việc nên thánh, tức hồi phục lại sự thánh thiện nguyên thủy của con người, những Kitô hữu nào biết cậy nhờ vào sự bảo trợ của Mẹ Maria và noi theo gương yêu thương tha nhân của Mẹ thì thường dễ thành công hơn.

4.   Mẫu gương quan tâm đến nhu cầu của tha nhân nơi Mẹ Maria

Lý do khiến Đức Mẹ trở nên Đấng Đồng Công với Chúa Giêsu, chính là tình yêu thương chan hòa của Ngài đối với mọi người, không phân biệt thân sơ, giàu nghèo. Tình yêu thương ấy đã khiến Đức Mẹ trở nên hết sức nhậy cảm trước nhu cầu, nỗi khó khăn, sự đau khổ cũng như niềm vui, niềm hạnh phúc của người khác. Vì thế, trong đám tiệc, khi chủ nhà sắp hết rượu, Đức Mẹ đã nhận ra ngay nỗi lo lắng của họ, cho dù Mẹ chỉ là một khách mời, lại là một phụ nữ thường đâu quan tâm đến việc ưống rượu của đàn ông, và theo lẽ thường chủ nhà cố gắng không biểu lộ ra.

Sự nhạy bén đó Mẹ có được là do lòng yêu thương của Mẹ đối với mọi người khiến Mẹ luôn quan tâm đến người khác, quan tâm đến từng chi tiết của đời sống. Có thể nói tình yêu luôn luôn phải được biểu lộ bằng sự quan tâm. Mặc dù quan tâm không phải lúc nào cũng là dấu chứng của yêu thương, nhưng chắc chắn rằng không quan tâm thì cũng đồng nghĩa với không yêu thương.

Chúng ta thường nghĩ rằng mình đang yêu thương, đặc biệt những người gần gũi ta nhất: cha mẹ, vợ/chồng, con cái, anh chị em ta. Nhưng có đích thật là ta yêu thương những người ấy không? ta có thật sự quan tâm đến niềm vui, nỗi buồn, niềm mong ước, hy vọng hay nhu cầu của họ không? ta có sẵn sàng thỏa mãnfa những nhu cầu ấy bất chấp phải hy sinh ít nhiều thì giờ, tiền bạc, sức lực của ta không? ta sẵn sàng tới mức độ nào? Nếu «đức tin không có hành động thì quả là đức tin chết» (Gc 2,17), thì tương tự như vậy, tình yêu thương không được thể hiện thành sự quan tâm đến nhu cầu và hạnh phúc hay đau khổ của người mình yêu thương thì không phải là yêu thương thật sự. Vậy, chúng ta hãy chứng tỏ tình yêu thương của mình là tình yêu đích thực bằng sự quan tâm đến niềm vui, nỗi khổ và nhu cầu của những người mình yêu thương, đồng thời sẵn sàng hy sinh thì giờ, sức lực, tiền bạc để thỏa mãn những gì họ cần.

CẦU NGUYỆN

Lạy Mẹ Maria, xin cho con biết bắt chước Mẹ, biết biểu lộ tình thương của con đối với những người chung quanh một cách cụ thể bằng sự quan tâm thật sự đối với những niềm vui, nỗi buồn, những thuận lợi cũng như những bất lợi của họ. Xin đừng để con thường xuyên vô tình, hay cố tình làm ngơ trước những nhu cầu hay những đau khổ của người khác.  

(Nguyễn Chính Kết)




Thứ Ba, 12 tháng 1, 2016

HL-1



HIỂU & SỐNG TIN MỪNG


Chúa Nhật thứ 1 sau lễ Hiển Linh
(Năm C − ngày 10-1-2016)



Lễ Chúa Giêsu chịu phép rửa

ĐỌC LỜI CHÚA

·    Is 40,1-5.9-11: (11) Như mục tử, Chúa chăn giữ đoàn chiên của Chúa, tập trung cả đoàn dưới cánh tay. Lũ chiên con, Người ấp ủ vào lòng, bầy chiên mẹ, cũng tận tình dẫn dắt.

·    Tt 2,11-14; 3,4-7: (5) Không phải vì tự sức mình chúng ta đã làm nên những việc công chính, nhưng vì Người thương xót, nên Người đã cứu chúng ta nhờ phép rửa ban ơn Thánh Thần, để chúng ta được tái sinh và đổi mới. (6) Thiên Chúa đã tuôn đổ đầy tràn ơn Thánh Thần xuống trên chúng ta, nhờ Đức Giêsu Kitô, Đấng cứu độ chúng ta.



·    TIN MỪNG: Lc 3,15-16.21-22

 Đức Giêsu chịu phép rửa


 (15) Hồi đó, dân đang trông ngóng, và trong thâm tâm, ai nấy đều tự hỏi: biết đâu ông Gioan lại chẳng là Đấng Mêsia! (16) Ông Gioan trả lời mọi người rằng: «Tôi, tôi làm phép rửa cho anh em trong nước, nhưng có Đấng mạnh thế hơn tôi đang đến, tôi không đáng cởi quai dép cho Người. Người sẽ làm phép rửa cho anh em trong Thánh Thần và lửa».

 (21) Khi toàn dân đã chịu phép rửa, Đức Giêsu cũng chịu phép rửa, và đang khi Người cầu nguyện, thì trời mở ra, (22) và Thánh Thần ngự xuống trên Người dưới hình dáng chim bồ câu. Lại có tiếng từ trời phán rằng: «Con là Con của Cha; ngày hôm nay, Cha đã sinh ra Con».


CHIA SẺ

Câu hỏi gợi ý:

1.   Tại sao người Do Thái lại tự hỏi: «Biết đâu ông Gioan lại chẳng là Đấng Mêsia»? Thái độ của Gioan thế nào? Ta học được gì nơi thái độ ấy?

2.   Đức Giêsu vô tội, tại sao Ngài lại lãnh nhận phép rửa của Gioan? Ngài muốn làm gương cho chúng ta? Hay Ngài sám hối thay cho cả nhân loại?

3.   Ta có thể bắt chước Ngài trong việc sẵn sàng gánh tội cho người khác, sám hối và sẵn sàng chịu đau khổ để đền tội thay cho họ?

Suy tư gợi ý:

1.       Phép rửa của Gioan Tẩy Giả

Gioan Tẩy giả là vị ngôn sứ cuối cùng của Cựu ước xuất hiện khoảng năm 30 sau công nguyên. Trước ông, có khoảng 20 vị ngôn sứ được Thánh Kinh ghi nhận đã xuất hiện rải rác trong khoảng 450 năm, bắt đầu là ngôn sứ Êlia (khoảng năm 900 trước CN), và cuối cùng là ngôn sứ Giona (khoảng năm 350 trước CN). Kể từ ngôn sứ Giona, suốt gần 400 năm, dân Do Thái không có một ngôn sứ nào xuất hiện. Năm 63 trước CN, Do Thái bị đế quốc Rôma thống trị tàn bạo, nên từ đó dân chúng ai nấy đều nóng lòng chờ đợi Đấng Cứu Thế đến giải phóng dân Ngài. Thế rồi Gioan Tẩy giả xuất hiện như một vị ngôn sứ, ông ăn mặc giống Êlia (2V 1,8; x. Mt 3,4), rao giảng cùng một sứ điệp như Êlia về sự phán xét của Thiên Chúa, đồng thời kêu gọi «hãy sám hối, vì Nước Trời đã đến gần» (Mt 3,2) và loan báo sẽ có một «Đấng mạnh thế hơn tôi đang đến, tôi không đáng cởi quai dép cho Người. Người sẽ làm phép rửa cho anh em trong Thánh Thần và lửa» (Lc 3,16). Vì thế, dân chúng cảm thấy có một cuộc phục hưng lớn về mặt tôn giáo bắt đầu xảy ra để chuẩn bị Nước Trời sắp đến. Chính Gioan cũng rất ý thức về cuộc phục hưng ấy mà ông là người góp phần vào.

Trước khi Gioan xuất hiện, phép rửa là một nghi thức mà người Do Thái vẫn thường làm cho dân ngoại khi họ trở lại Do Thái giáo. Ai đã theo Do Thái giáo rồi thì không lãnh nhận phép rửa nữa. Còn Gioan thì lại làm phép rửa cho chính người đã theo Do Thái giáo. Phải nói đó là một chuyện lạ đời đối với dân chúng. Phép rửa của ông có ý nghĩa là: Nước Trời đã gần đến, mà người khai mạc là một «Đấng mạnh thế hơn ông đang đến, ông không đáng cởi quai dép cho Người» (Lc 3,16). Để đón Nước Trời cùng với Đấng ấy, con người phải chuẩn bị bằng việc sám hối, dù đã là người Do Thái giáo. Và hình thức biểu lộ cụ thể là lãnh nhận phép rửa. Chính Gioan đã xác nhận mục đích phép rửa của mình: «Tôi đến làm phép rửa trong nước là để Người được tỏ ra cho dân Ítraen» (Ga 1,31). Thánh Phaolô cũng viết: «Ông Gioan đã làm một phép rửa tỏ lòng sám hối, và ông bảo dân tin vào Đấng đến sau ông, tức là Đức Giêsu» (Cv 19,4). Tóm lại, phép rửa của Gioan nhằm giúp dân chúng sám hối hầu chuẩn bị một kỷ nguyên mới do Đức Giêsu khai mạc và thực hiện.

Ngoài phép rửa ông đang làm, ông còn giới thiệu cho dân Do Thái một thứ phép rửa khác mà ông không làm được; đó là phép rửa của Đấng mà ông giới thiệu: «Người sẽ làm phép rửa cho anh em trong Thánh Thần và lửa» (Lc 3,16b). Vì thế, khi Đức Giêsu đến để xin ông làm phép rửa cho Ngài, thì ông thấy yêu cầu ấy quả là nghịch lý. Ông nói: «Chính tôi mới cần được Ngài làm phép rửa» (Mt 3,14), thứ phép rửa «trong Thánh Thần và lửa» của Ngài, chứ đâu có chuyện ngược đời là ông lại làm phép rửa cho Ngài. Nhưng Đức Giêsu trả lời: «Chúng ta nên làm như vậy để giữ trọn đức công chính» (Mt 3,15). Lúc ấy Gioan mới chịu làm theo ý Ngài.

2.       Tại sao Đức Giêsu lại lãnh nhận phép rửa của Gioan?

Quả thật, việc Đức Giêsu đòi Gioan làm phép rửa cho mình là một chuyện nghịch lý. Nhưng Ngài có lý của Ngài. Chắc chắn Ngài chịu phép rửa của Gioan không phải như những người Do Thái khác là để tỏ lòng sám hối tội lỗi, vì bản thân Ngài hoàn toàn vô tội. Chính phép rửa của Gioan là để chuẩn bị tâm hồn con người đón Ngài đến, thì tại sao Ngài lại chịu phép rửa của Gioan? Sở dĩ Ngài xin Gioan làm phép rửa cho Ngài là vì:

– Tuy bản thân Đức Giêsu hoàn toàn vô tội, nhưng Ngài là Đấng gánh tội trần gian, nghĩa là Ngài chất đầy tội lỗi của nhân loại trên bản thân mình. Vì thế, trước mặt Thiên Chúa, với tư cách đại diện cho toàn nhân loại, Ngài phải tự liệt mình vào hàng tội nhân cần phải sám hối.Thánh Phaolô viết: Ngài đã «mang thân xác giống như thân xác tội lỗi chúng ta để đền tội chúng ta» (Rm 8,3b), thậm chí «Thiên Chúa đã lên án tội lỗi trong thân xác Con mình» (Rm 8,3c). Và Ngài sám hối thay cho toàn nhân loại, tương tự như một số ngôn sứ trước Ngài đã làm, chẳng hạn như Môsê (x. Xh 9,27; 32,31-32; Lv 8,14-15), Nêhêmi (x. Nkm 1,6-7), Ét-ra (x. Er 10,1.6) và Đanien (x. Đn 10,2) đã từng làm.

– Với tư cách Đấng Cứu Chuộc nhân loại, Đức Giêsu muốn hòa mình với loài người tội lỗi để cùng họ sám hối trước mặt Thiên Chúa: Ngài “đã phải nên giống anh em mình về mọi phương diện… hầu đền tội cho dân” (Dt 2,17). Đây quả là thái độ khiêm nhường và đầy tình yêu, một thái độ cần thiết phải có để được tha tội, và riêng đối với Ngài, để chuộc tội cho nhân loại trước Thiên Chúa. Thái độ này khác hẳn với thái độ của người Pharisêu, thích tự coi mình là những người thánh thiện, muốn được tách biệt hẳn với đa số dân chúng mà họ coi là tội lỗi. Trái lại, Ngài tỏ ra rất thông cảm với những yếu đuối của con người, và không kết án họ (x. Ga 8,11; Lc 7,47-48).

– Đức Giêsu muốn đánh dấu việc bắt đầu cuộc đời công khai của mình bằng hành động sám hối thay cho nhân loại, và kết thúc cuộc đời Ngài bằng việc chết trên thập giá để đền tội thay cho nhân loại. Cái chết của Ngài chính là «phép rửa bằng lửa» (x. Mt 3,11) cho những ai tin vào Ngài và sống giới răn yêu thương của Ngài. Phép rửa này có khả năng xóa sạch tội lỗi của họ trước mặt Thiên Chúa. Nhờ đó, toàn cuộc đời công khai của Ngài mang ý nghĩa sám hối và đền tội thay cho nhân loại. Như vậy, Ngài đã khởi đầu cuộc đời công khai của Ngài với «phép rửa bằng nước» của Gioan, và kết thúc cuộc đời ấy với «phép rửa bằng lửa» là cuộc tử nạn thảm khốc của Ngài. Ngài đại diện cho nhân loại tội lỗi để nhận hai phép rửa ấy để Thiên Chúa xóa tội cho toàn nhân loại.

– Đức Giêsu muốn ủng hộ phép rửa và chủ trương phải sám hối của Gioan. Vì muốn gia nhập Nước Trời, công việc cần thiết đầu tiên là phải sám hối, nhìn nhận tội lỗi mình trước Thiên Chúa, quyết tâm sống đời sống mới, mặc lấy những quan niệm mới và thay đổi cách sống cho phù hợp với quan niệm mới ấy… Sám hối mà Gioan đòi hỏi không chỉ là thứ sám hối xuông theo nghi thức, chỉ tỏ vẻ hối hận nhưng sau đó không có gì thay đổi cả, mà là thứ sám hối đòi buộc phải có «hoa quả chứng tỏ lòng sám hối» (Mt 3,8).

3. Ý nghĩa tích cực của sám hối

Sám hối không chỉ là nhìn nhận bản chất mình là tội lỗi, mà còn phải nhận ra bản chất mình là «hình ảnh của Thiên Chúa», «được tạo dựng giống như Thiên Chúa» (St 1,26-27), là «con cái Thiên Chúa» (Lc 20,36; Rm 8,14.16; Gl 3,26), và mang trong mình bản tính thần linh của Ngài (2Pr 1,4), nhưng lại sống không đúng với bản chất cao cả ấy của mình. Chính vì thế, chúng ta làm nhục Thiên Chúa. Tương tự như một hoàng tử, là cành vàng lá ngọc, mà lại làm những việc đê tiện, bỉ ổi khiến vua cha phải xấu hổ vì con. Thật vậy, nếu bản chất của ta là tội lỗi thì khi ta sống trong tội lỗi, ta không có gì đáng trách vì ta đã sống đúng với bản chất của mình. Tương tự như một người hạ tiện làm công việc hạ tiện thì không có gì đáng xấu hổ. Nhưng bản chất ta là thánh thiện, nếu ta lại chấp nhận vùi mình trong tội lỗi, thì ta thật đáng trách. Chẳng khác gì một người có tấm thân ngọc ngà mà lại cam lòng vùi mình vào đám phẩn hôi.

Nếu ta chưa sống đúng với bản chất thánh thiện cao cả của mình, thì sự công chính đòi hỏi ta phải sám hối. Sám hối là phải thay đổi quan niệm và trở thành «con người mới» (Ep 4,24; Cl 3,10), đúng với bản chất thánh thiện và cao cả ấy. Vì nhân loại đầy tội lỗi, Đức Giêsu đã phải thực hiện sự sám hối ấy với tư cách đại diện cho toàn nhân loại, để nhân loại nên công chính trước Thiên Chúa.

CẦU NGUYỆN

Lạy Cha, Đức Giêsu thánh thiện và hoàn toàn vô tội, thế mà vì yêu thương nhân loại tội lỗi, Ngài đã gánh lấy tội lỗi nhân loại, và tự liệt mình vào hàng những người tội lỗi cần phải sám hối. Còn con thì lại hành động ngược lại, con tuy tội lỗi nhưng lại thích được người khác tôn vinh và đối xử như một người thánh thiện. Con rất ngại phải nhìn nhận mình có lỗi, có tội, mà thường muốn chối phăng những tội lỗi của mình. Xin Cha giúp con có được ý thức, tâm tình yêu thương và lòng dũng cảm như Đức Giêsu, để con cũng biết liên đới trách nhiệm với những tội lỗi của những người sống chung quanh con, những người đang cùng sống trong một xã hội với con. Amen.     

(Nguyễn Chính Kết)

Thứ Sáu, 1 tháng 1, 2016

GS-02-C



HIỂU & SỐNG TIN MỪNG


Chúa Nhật thứ 2 sau Giáng Sinh
(Năm C − ngày 3-1-2016)

Lễ Hiển Linh

ĐỌC LỜI CHÚA


·   Is 60,1-6: (3) Chư dân sẽ đi về phía ánh sáng của ngươi, vua chúa hướng về ánh bình minh của ngươi mà tiến bước. (4) Đưa mắt nhìn tứ phía mà xem, tất cả đều tập hợp, kéo đến với ngươi: con trai ngươi từ phương xa tới, con gái ngươi được ẵm bên hông.

·   Ep 3,2-3a.5-6: (5) Thiên Chúa đã không cho những người thuộc các thế hệ trước được biết mầu nhiệm này, nhưng nay Người đã dùng Thần Khí mà mặc khải cho các thánh Tông Đồ và ngôn sứ của Người. (6) Mầu nhiệm đó là: trong Đức Kitô Giêsu và nhờ Tin Mừng, các dân ngoại được cùng thừa kế gia nghiệp với người Do thái, cùng làm thành một thân thể và cùng chia sẻ điều Thiên Chúa hứa.


·   TIN MỪNG: Mt 2,1-12

Các nhà chiêm tinh đến bái lạy Đức Giêsu Hài Nhi

(1) Khi Đức Giêsu ra đời tại Bêlem, miền Giuđê, thời vua Hêrôđê trị vì, có mấy nhà chiêm tinh từ phương Đông đến Giêrusalem, (2) và hỏi: «Đức Vua dân Do-thái mới sinh, hiện ở đâu? Chúng tôi đã thấy vì sao của Người xuất hiện bên phương Đông, nên chúng tôi đến bái lạy Người». (3) Nghe tin ấy, vua Hêrôđê bối rối, và cả thành Giêrusalem cũng xôn xao. (4) Nhà vua liền triệu tập tất cả các thượng tế và kinh sư trong dân lại, rồi hỏi cho biết Đấng Kitô phải sinh ra ở đâu. (5) Họ trả lời: «Tại Bêlem, miền Giuđê, vì trong sách ngôn sứ, có chép rằng: (6) 'Phần ngươi, hỡi Bêlem, miền đất Giuđa, ngươi đâu phải là thành nhỏ nhất của Giuđa, vì ngươi là nơi vị lãnh tụ chăn dắt Ítraen dân Ta sẽ ra đời».

 (7) Bấy giờ vua Hêrôđê bí mật vời các nhà chiêm tinh đến, hỏi cặn kẽ về ngày giờ ngôi sao đã xuất hiện. (8) Rồi vua phái các vị ấy đi Bêlem và dặn rằng: «Xin quý ngài đi dò hỏi tường tận về Hài Nhi, và khi đã tìm thấy, xin báo lại cho tôi, để tôi cũng đến bái lạy Người». (9) Nghe nhà vua nói thế, họ ra đi. Bấy giờ ngôi sao họ đã thấy ở phương Đông, lại dẫn đường cho họ đến tận nơi Hài Nhi ở, mới dừng lại. (10) Trông thấy ngôi sao, họ mừng rỡ vô cùng. (11) Họ vào nhà, thấy Hài Nhi với thân mẫu là bà Maria, liền sấp mình thờ lạy Người. Rồi họ mở bảo tráp, lấy vàng, nhũ hương và mộc dược mà dâng tiến. (12) Sau đó, họ được báo mộng là đừng trở lại gặp vua Hêrôđê nữa, nên đã đi lối khác mà về xứ mình.

CHIA SẺ

Câu hỏi gợi ý:

1. Lúc Đức Giêsu sinh ra, những ai biết được Ngài đã sinh ra và sinh ở đâu? Họ biết được là nhờ phương tiện gì? Phương tiện nào giá trị và chính xác nhất? Và phương tiện nào đã giúp đương sự thật sự gặp được Đức Giêsu?

2.  Biết về Thiên Chúa một cách đúng đắn và chính xác có bảo đảm là sẽ thật sự gặp gỡ và cảm nghiệm được Ngài không? Những kẻ không biết đúng đắn và chính xác về Ngài có thể gặp gỡ và cảm nghiệm Ngài không? Yếu tố quan trọng để gặp gỡ và cảm nghiệm Ngài là gì?

3. Bạn rút ra bài học gì về khả năng được cứu rỗi của dân ngoại? Điều quan trọng để được cứu rỗi là tin, là biết cho chính xác, hay là thực hiện điều mình tin, điều mình biết, tức thật sự sống tinh thần yêu thương của Thiên Chúa?


Suy tư gợi ý:

1. Ba cách biết khác nhau về sự kiện Đấng Cứu thế sinh ra

Cách đây khoảng 2000 năm, Đức Giêsu – Đấng Cứu Thế mà các ngôn sứ đã tiên báo hàng trăm năm trước – đã sinh ra một cách rất âm thầm tại làng Bêlem. Âm thầm, nhưng vẫn có những người biết sự kiện này. Đó là các mục đồng, rồi đến các nhà chiêm tinh ngoại giáo, sau cùng là vua Hêrôđê và các kinh sư Do Thái. Họ biết theo những cách thức khác nhau, và phản ứng của họ sau khi biết cũng rất khác nhau.

Các mục đồng đơn sơ chất phác thì được các thiên sứ trực tiếp đến báo tin. Đây là cách biết dễ dàng nhất, mau lẹ nhất, khỏe nhất, không đòi hỏi tài năng hay suy luận cao xa, không đòi hỏi phải chủ động tìm kiếm rồi mới biết, mà lại chính xác nhất… Tất cả đều do Thiên Chúa sắp đặt và cho biết một cách vô điều kiện. Và sau khi biết Đấng Cứu Thế sinh ra ở đâu, các mục đồng đã đến thăm viếng Ngài.

Các nhà chiêm tinh thì biết theo kiểu khác. Các ông khám phá ra sự xuất hiện của một ngôi sao lạ. Các ông dùng kiến thức về chiêm tinh học để suy đoán ra ý nghĩa của ngôi sao ấy. Và điều rất quan trọng là, dù xa xôi và biết rất mù mờ, các ông đã lên đường tìm kiếm «Đức Vua Dân Do Thái mới sinh» (Mt 2,2). Và các ông đã gặp được Ngài là một hài nhi nằm trong máng cỏ. Cách biết này mang tính tự nhiên, không chính xác, đòi hỏi thêm nhiều kiến thức tự nhiên của con người. Tuy vậy, cách biết bất toàn này đã giúp các ông thật sự gặp được Đấng Cứu Thế mới sinh. Điều chúng ta cần đặc biệt quan tâm ở đây, là các nhà chiêm tinh này là dân ngoại, không có tôn giáo chính thức của Thiên Chúa, và cũng không có mặc khải chính thức từ Thiên Chúa.

Vua Hêrôđê và các kinh sư Do Thái lại biết theo kiểu khác nữa. Nếu không nhờ các nhà chiêm tinh đến hỏi thăm thì họ sẽ chẳng bao giờ đặt vấn đề hay tìm hiểu về việc Đấng Cứu Thế sinh ra. Nhưng phải công nhận là sau khi được hỏi tới, nhờ tra cứu Kinh Thánh là mặc khải siêu nhiên và bảo đảm của Thiên Chúa, họ biết ngay nơi Đấng Cứu Thế sinh ra là làng Bêlem. Nhưng khác với hai loại người trước, họ biết rồi để đấy. Cái biết của họ – tuy rất chính xác và bảo đảm – chỉ là một cái biết thuần túy, chẳng dẫn tới hành động, chẳng dẫn họ đến với Đấng Cứu Thế, cội nguồn ơn cứu độ. Điều chúng ta cần lưu ý và có thể làm chúng ta ngạc nhiên, đó là Vua Hêrôđê và các kinh sư Do Thái là những vị đại diện cao cả nhất của dân tộc Do Thái là dân riêng của Thiên Chúa, của tôn giáo Do Thái là tôn giáo chính thức của Thiên Chúa, được Thiên Chúa chính thức mặc khải về Ngài qua Môsê và các ngôn sứ.

2. Phải lên đường đi tìm, phải biến cái biết thành hành động

Như vậy, để biết về Thiên Chúa, về Đức Giêsu, hay về chân lý có thể có nhiều cách biết khác nhau. Có cách do tự nhiên, có cách do siêu nhiên; có cách hoàn toàn do Thiên Chúa, có cách đòi hỏi sự góp phần của con người; có cách bảo đảm đúng và dễ dàng, có cách còn mơ hồ và còn phải nỗ lực nhiều mới đạt được sự chính xác… Nhưng xem ra không phải những ai biết chính xác về Thiên Chúa thì sẽ đương nhiên gặp được Ngài, và không phải những ai không biết đúng về Ngài thì sẽ không gặp được Ngài.

Thật vậy, nhiều người biết rất chính xác về Thiên Chúa nhưng lại chẳng có một nỗ lực nào đi tìm Ngài, nên cái biết ấy trở thành vô ích chẳng hơn gì không biết! Ngược lại, có những người biết về Ngài rất lờ mờ, thậm chí sai lạc, nhưng lại có quyết tâm đi tìm Ngài. Cuối cùng chỉ những người thật sự đi tìm Ngài mới gặp được Ngài. Vì đối với Thiên Chúa hay Chân Lý, thì «ai tìm, sẽ thấy» (Mt 7,7-8). Còn dù biết về Ngài từ những nguồn chính xác, đáng tin nhất, nhưng không lên đường đi tìm Ngài, thì cái biết ấy vô ích. Cái biết ấy tuy quí giá, nhưng chẳng khác gì một món tiền lớn đựng mãi trong két sắt, chẳng bao giờ được đem ra xài, nên chẳng lợi ích gì cho người chủ của nó: chủ nó thiếu thốn vẫn tiếp tục thiếu thốn.

Quả thật, khá nhiều người Kitô hữu tự hào về tôn giáo của mình là tôn giáo mặc khải, là tôn giáo chân chính phát xuất từ Thiên Chúa. Họ biết rất nhiều và rất chính xác về Thiên Chúa. Nhưng cái biết ấy chẳng đem lại lợi ích gì cho tâm linh và sự sống đời đời của họ. Vì họ chẳng đem cái biết ấy ra thực hành. Đức Giêsu nói họ chẳng khác gì những «người ngu dại xây nhà trên cát» (Mt 7,26). Giữa việc biết và việc thực hành cái biết ấy là cả một vực thẳm phải vượt qua, như một linh mục nọ thường nói: «Từ cái tai đến cái tay là cả một khoảng cách» (Lm Nguyễn Văn Siêu, sj).

3. Nỗ lực thành công của dân ngoại đến tìm Chúa

Bài Tin Mừng của lễ Hiển Linh hôm nay cho thấy: dân ngoại mà nỗ lực tìm kiếm Thiên Chúa thì sẽ gặp được Ngài, còn chính dân của Thiên Chúa nếu không tìm kiếm Ngài thì chẳng gặp được Ngài. «Thiên Chúa muốn cho mọi người được cứu độ và nhận biết chân lý» (1Tm 2,4; x. Dt 2,9), nên đối với những người ngoài Kitô giáo, Thiên Chúa vẫn dành cho họ những con đường riêng biệt để đến với Ngài, nhưng «bằng cách nào thì chỉ có Chúa biết thôi» (Vatican II, Hiến chế Mục Vụ 22§5). Trước Công Đồng Vatican II, người Kitô hữu thường quan niệm: không tin Thiên Chúa, không rửa tội, không phải là Kitô hữu thì không được cứu rỗi. Nhưng bài Tin Mừng hôm nay và rất nhiều đoạn Thánh Kinh khác cho thấy lập trường của Công Đồng Vatican II là đúng.

Bài Tin Mừng hôm nay cho thấy có những con đường riêng biệt, không chính thống, nhưng vẫn dẫn đến Thiên Chúa, dẫn đến việc gặp gỡ Ngài, bằng một trình thuật đầy oái oăm: Những kẻ có tôn giáo chân chính, có Kinh Thánh hay Lời Chúa trong tay, hiểu biết rất chính xác về Thiên Chúa thì lại không gặp được Ngài. Còn những kẻ không có tôn giáo chân chính, không có phương tiện hữu hiệu để biết Ngài, thì lại gặp được Ngài nhờ quyết tâm tìm kiếm Ngài. Điều ấy thật ứng nghiệm lời Kinh Thánh: «Dân mà trước đây không phải là dân của Ta, thì Ta sẽ gọi là Dân của Ta» (Os 1,10 ® Rm 9,26).

Với những kẻ tự hào mình có tôn giáo chân chính, có Lời Chúa trong tay mà không chịu sống tôn giáo ấy, không chịu thực hành Lời Chúa, thánh Phaolô viết: «Còn bạn, bạn mang danh là đạo Do-thái, lại ỷ rằng mình có Lề Luật, và tự hào mình có Thiên Chúa; bạn được biết ý Người, được Lề Luật dạy cho điều hay lẽ phải; Bạn tự hào vì có Lề Luật, mà bạn lại vi phạm Lề Luật, và như vậy bạn làm nhục Thiên Chúa! Thật đúng như lời chép: Chính vì các người mà danh Thiên Chúa bị phỉ báng giữa chư dân» (Rm 2,17-18.23-24).

Những người này, cũng theo thánh Phaolô, trước mặt Thiên Chúa, không giá trị bằng những người ngoại mà sống đúng theo luật lương tâm: «Còn phép cắt bì, đã hẳn là có ích, nếu bạn thi hành Lề Luật. Nhưng nếu bạn vi phạm Lề Luật, thì bạn có được cắt bì cũng kể như không cắt bì. Nếu người không được cắt bì mà giữ những điều Luật dạy, thì tuy họ không được cắt bì, Thiên Chúa chẳng coi họ như đã được cắt bì sao? Người không được cắt bì trong thân xác mà vẫn chu toàn Lề Luật, người ấy sẽ lên án bạn, vì bạn có Lề Luật ghi chép hẳn hoi và bạn đã được cắt bì, mà vẫn vi phạm Lề Luật» (Rm 2,25-27). Để phù hợp với hoàn cảnh hiện tại, ta có thể thay từ «cắt bì» bằng từ «rửa tội» thì sẽ thấy rõ ý nghĩa của đoạn này cho thời đại của chúng ta.

Do đó, được là người Kitô hữu là một ơn rất lớn lao và đặc biệt. Nhưng lại cũng là một trách nhiệm, vì ai nhận nhiều thì sẽ bị đòi hỏi phải sinh lợi ra nhiều, ai nhận ít thì bị đòi hỏi ít (x. dụ ngôn yến bạc: Mt 25,14-30). Nếu ta sống đúng tinh thần của người Kitô hữu là luật yêu thương của Đức Giêsu (x. Ga 13,34), thì hạnh phúc và phần thưởng cho chúng ta, đời này cũng như đời sau (x. Lc 18,30; Mc 10,30), sẽ vô cùng lớn lao. Nhưng nếu ta không đem tinh thần yêu thương của Đức Giêsu ra thực hành trong đời sống, thì giá trị của ta trước Thiên Chúa sẽ không bằng người ngoại giáo biết sống đúng theo lương tâm của họ.

4.  Tương quan giữa biết và làm, giữa tin và yêu, giữa đức tin và đức ái

Từ bài Tin Mừng hôm nay, chúng ta có thể rút ra một bài học quan trọng. Giữa biết và làm, thì ‘biết’ là phương tiện còn ‘làm’ là mục đích. ‘Biết’ rất là quan trọng, vì không biết thì không thích, không yêu, và không dẫn đến việc làm. Và biết sai thì sẽ dẫn đến làm sai. Câu «Thiện chí cộng với ngu dốt (tức ‘không biết’) thành phá hoại» không phải là phi lý. ‘Biết đúng’ tuy rất quan trọng, nhưng nếu không dẫn đến việc làm, thì cái biết ấy trở thành vô ích. Tương tự như vậy, đức tin rất quan trọng, nhưng đức tin có mạnh đến đâu mà không dẫn đến đức ái, đến lòng yêu thương Thiên Chúa qua đồng loại, thì «đức tin không hành động ấy là đức tin chết» (Gc 2,17). Thánh Phaolô cũng xác định rõ ràng: «Giả như tôi có đức tin mạnh đến chuyển núi dời non, mà không có đức mến, thì tôi cũng chẳng là gì» (1Cr 13,2).

Tóm lại, bài học có thể rút ra được từ bài Tin Mừng hôm nay, đó là có được tôn giáo chính thống từ Thiên Chúa là một ơn huệ lớn lao của Thiên Chúa, nhờ đó ta có thể biết con đường ngắn nhất, chính xác nhất để đến với Thiên Chúa. Nhưng điều đó không có nghĩa là cứ có tôn giáo chính thống thì ta sẽ đến được với Thiên Chúa. Vấn đề quan trọng nằm ở chỗ chúng ta có chịu lên đường để đi hay không, nghĩa là có thật sự thực hành những điều Thiên Chúa muốn chúng ta làm, là yêu Thiên Chúa qua tha nhân hay không. Ngược lại, người không có tôn giáo chính thống từ Thiên Chúa, nhưng họ thật sự sống theo lương tâm, theo sự đòi hỏi của tình thương trong lòng họ, thì họ vẫn có thể đến với Thiên Chúa một cách chắc chắn hơn những Kitô hữu sống không tình thương. Nhiều khi chúng ta giống như con cái những nhà giàu có, với đủ mọi phương tiện để học thành tài, nhưng chúng ta không thành tài như con cái của những nhà nghèo khổ, thiếu đủ mọi phương tiện, nhưng biết cố gắng học hành trong những điều kiện khó khăn nhất.

Thánh Gioan đã cho chúng ta một tiêu chuẩn để phân biệt đâu là con cái của Thiên Chúa và đâu là con cái của ma quỷ, đó chính là tình yêu thương đồng loại: «Căn cứ vào điều này mà người ta phân biệt con cái Thiên Chúa với con cái ma quỷ : phàm ai không sống công chính, không yêu thương anh em mình thì không thuộc về Thiên Chúa» (1Ga 3,10); «Chúng ta đã từ cõi chết bước vào cõi sống, vì chúng ta yêu thương anh em. Kẻ không yêu thương thì ở lại trong sự chết» (1Ga 3,14). Thế giới này bất ổn, loạn lạc, bất công, đau khổ, không phải vì người ta thiếu đức tin, thiếu các tôn giáo, mà vì người ta thiếu tình yêu thương đồng loại.

Do đó, chúng ta cần phải biết cái cốt tủy hay yếu tính của tôn giáo mình là gì. Chắc chắn không phải là những lễ nghi, hình thức bên ngoài, mà là tình yêu đối với Thiên Chúa qua đồng loại. Đức Giêsu nói thật rõ ràng: «Ta muốn lòng nhân chứ đâu cần lễ tế» (Mt 9,13). Tại sao ta lại coi lễ tế quan trọng hơn cả lòng nhân? Chúng ta thực hành đủ mọi thứ phụ thuộc, nhưng lại thiếu cái cốt tủy quan trọng nhất ấy, thì ích lợi gì việc thực hành những thứ phụ thuộc kia?

CẦU NGUYỆN

Lạy Cha, là người Kitô hữu, chúng con thường tự hào rằng tôn giáo của mình là chính giáo. Nhưng quả thật, nhiều khi chúng con lại không sống tinh thần yêu thương của Đức Kitô bằng nhiều người ngoại giáo. Qua bài Tin Mừng lễ Hiển Linh hôm nay, xin cho chúng con ý thức được nguy cơ này: coi chừng chúng con cũng giống như Hêrôđê và các kinh sư Do Thái, có tôn giáo chân chính, có phương tiện để gặp Cha, để được cứu rỗi trong tay, nhưng cuối cùng tất cả những ưu đãi ấy đều trở thành vô ích vì sự ù lỳ của chúng con. Đang khi ấy, nhiều người ngoại giáo lại có diễm phúc gặp Cha và gần Cha hơn chúng con, chỉ vì họ biết dấn thân quảng đại đáp lại những ơn Cha ban, dù ơn đó họ được ít ỏi hơn chúng con. Xin cho chúng con biết thật sự sống tinh thần yêu thương của Đức Giêsu, để chúng con xứng đáng là người Kitô hữu đích thực.                                                               


Nguyễn Chính Kết

GS-01-C



Chúa Nhật thứ 1 
sau Giáng Sinh
(Năm C − ngày 27-12-2015)

Lễ Thánh Gia

ĐỌC LỜI CHÚA

·   Hc 3, 2-6:  (3) Ai thờ cha thì bù đắp lỗi lầm, (4) ai kính mẹ thì tích trữ kho báu. (6) Ai vâng lệnh Đức Chúa sẽ làm cho mẹ an lòng

·    Cl 3, 12-21: (18) Người làm vợ hãy phục tùng chồng, như thế mới xứng đáng là người thuộc về Chúa. (19) Người làm chồng hãy yêu thương chứ đừng cay nghiệt với vợ.


·    TIN MỪNG: Lc 2,41-52

Đức Giêsu ngồi giữa các bậc thầy Dothái

 (41) Hằng năm, cha mẹ Đức Giêsu trẩy hội đền Giêrusalem mừng lễ Vượt Qua. (42) Khi Người được mười hai tuổi, cả gia đình cùng lên đền, như người ta thường làm trong ngày lễ. (43) Xong kỳ lễ, hai ông bà trở về, còn cậu bé Giêsu thì ở lại Giêrusalem, mà cha mẹ chẳng hay biết. (44) Ông bà cứ tưởng là cậu về chung với đoàn lữ hành, nên sau một ngày đường, mới đi tìm kiếm giữa đám bà con và người quen thuộc. (45) Không thấy con đâu, hai ông bà trở lại Giêrusalem mà tìm.

 (46) Sau ba ngày, hai ông bà mới tìm thấy con trong Đền Thờ, đang ngồi giữa các thầy dạy, vừa nghe họ, vừa đặt câu hỏi. (47) Ai nghe cậu nói cũng ngạc nhiên về trí thông minh và những lời đối đáp của cậu. (48) Khi thấy con, hai ông bà sửng sốt, và mẹ Người nói với Người: “Con ơi, sao con lại xử với cha mẹ như vậy? Con thấy không, cha con và mẹ đây đã phải cực lòng tìm con!” (49) Người đáp: “Sao cha mẹ lại tìm con? Cha mẹ không biết là con có bổn phận ở nhà của Cha con sao?” (50) Nhưng ông bà không hiểu lời Người vừa nói.

 Đức Giêsu còn sống ẩn dật tại Nadarét

 (51) Sau đó, Người đi xuống cùng với cha mẹ, trở về Nadarét và hằng vâng phục các ngài. Riêng mẹ Người thì hằng ghi nhớ tất cả những điều ấy trong lòng. (52) Còn Đức Giêsu ngày càng thêm khôn ngoan, thêm cao lớn và thêm ân nghĩa đối với Thiên Chúa và người ta.

CHIA SẺ

Câu hỏi gợi ý:

1. Thiên Chúa có ba ngôi, sống và yêu thương nhau tương tự như trong một gia đình. Như vậy gia đình phải chăng là hình ảnh của Thiên Chúa Ba Ngôi? Nếu như thế, gia đình phải sống thế nào mới đúng bản chất của mình?

2. Lý do thông thường nhất khiến cho một gia đình trở nên bất hạnh là gì? Muốn gia đình trở nên hạnh phúc phải bắt đầu từ đâu?

3. Vai trò của gia đình trong việc huấn luyện con người biết yêu thương như thế nào? Vậy, các bậc cha mẹ phải tập cho con cái yêu thương như thế nào?



Suy tư gợi ý:

1. Gia đình là hình ảnh của Ba Ngôi Thiên Chúa

Nếu con người là hình ảnh của Thiên Chúa (x. St 1,27b), thì có thể nói: gia đình chính là hình ảnh của Ba Ngôi Thiên Chúa. Thiên Chúa của chúng ta không phải là một Thiên Chúa sống đơn độc, mà là một Thiên Chúa mang tính gia đình, trong đó Ba Ngôi khác biệt nhau nhưng yêu thương nhau, sống chung, làm việc chung, và kết hợp với nhau thắm thiết như trong một gia đình, và hiệp nhất với nhau tới mức độ tuy là Ba Ngôi nhưng chỉ là một Thiên Chúa duy nhất. Nếu Thiên Chúa là tình yêu, thì “Tập Thể Ba Ngôi” là một môi trường để Ba Ngôi Thiên Chúa thể hiện tình yêu của mình với nhau. Vì Ba Ngôi tuy khác biệt nhau, nhưng yêu thương nhau vô cùng, nên hòa hợp với nhau một cách tuyệt diệu đến nỗi có thể hiệp nhất với nhau tới mức trở thành một Thiên Chúa duy nhất. Tình yêu và sự hiệp nhất ấy chính là yếu tố chủ yếu tạo nên thiên đàng hay hạnh phúc của Ba Ngôi.

2. Thánh Gia, hay gia đình của Đức Giêsu,
là gương mẫu tại thế cho mọi gia đình

Cũng vậy, nếu gia đình là hình ảnh của Ba Ngôi, thì mẫu gương mà mọi gia đình phải bắt chước, chính là gia đình của Ba Ngôi Thiên Chúa, trong đó mọi thành viên đều yêu thương nhau, luôn hòa hợp và hiệp nhất với nhau. Có như thế, gia đình mới trở thành một thiên đàng tại thế, và mọi thành viên của gia đình mới được hưởng nếm trước phần nào hạnh phúc của thiên đàng mai sau. Hạnh phúc trong những gia đình yêu thương nhau – được biểu lộ và hình thành cụ thể bằng việc quan tâm, lo lắng và hy sinh cho nhau – đó chính là hình ảnh trung thực của thiên đàng vĩnh cửu. Trái lại, nếu các thành viên trong gia đình không yêu thương nhau, không sẵn sàng hy sinh cho nhau, thì họ sẽ biến gia đình thành hỏa ngục tại thế, và đó là hình ảnh của hỏa ngục vĩnh cửu.

Khi Đức Giêsu khuyên các tông đồ: «Anh em hãy nên hoàn thiện, như Cha anh em trên trời là Ðấng hoàn thiện» (Mt 5,48), thì Ngài chính là gương mẫu hoàn thiện tuyệt hảo tại thế cho mọi cá nhân, còn gia đình Đức Giêsu tại Nazarét chính là gương mẫu hoàn thiện tuyệt hảo tại thế cho mọi gia đình.

Bí quyết để gia đình hoàn thiện và hạnh phúc là sống vị tha, «từ bỏ mình», quan tâm đến nhau, chấp nhận nhau, và sẵn sàng hy sinh «vác thập giá» cho nhau (x. Mt 16,24). Điều rất quan trọng để gia đình hạnh phúc, đó là sẵn sàng tha thứ, bỏ qua những lầm lỗi cho nhau, và sẵn sàng hy sinh cho nhau. Có tha thứ, có chấp nhận chịu khổ vì nhau thì mới chứng tỏ được tình yêu của mình đối với nhau là tình yêu đích thực, vì «Thương nhau (thì) củ ấu cũng tròn», «Yêu nhau (thì) tam tứ núi cũng trèo...». Chịu khổ vì nhau tương đối dễ, nhưng tha thứ cho nhau khó hơn nhiều. Nhưng không tha thứ, không thể hòa hợp và hạnh phúc với nhau được! Đức Giêsu đề nghị: «Nếu khi anh sắp dâng lễ vật trước bàn thờ, mà sực nhớ có người anh em đang có chuyện bất bình với anh, thì hãy để của lễ lại đó trước bàn thờ, đi làm hòa với người anh em ấy đã, rồi trở lại dâng lễ vật của mình» (Mt 5,23-24), và phải tha thứ đến «bảy mươi lần bảy» (Mt 18,22).

3. Tính ích kỷ, nguồn gốc bất hạnh của mọi gia đình

Nhìn vào bất cứ một gia đình bất hạnh nào – nghĩa là một gia đình không hạnh phúc – ta luôn luôn thấy bóng dáng tính ích kỷ của một thành viên nào đó trong gia đình. Chính tính ích kỷ của thành viên này là nguồn gây nên đau khổ trong gia đình. Nếu thành viên ích kỷ ấy là người cha hay người mẹ, thì đau khổ trong nhà sẽ hết sức lớn lao. Gia đình nào càng có nhiều người ích kỷ, gia đình ấy càng bất hạnh. Gia đình mà càng có nhiều người sống vị tha, biết hy sinh cho người khác, gia đình ấy càng ít bất hạnh. Một gia đình mà mọi thành viên đều vị tha, đều quan tâm, chăm sóc và hy sinh cho nhau, đều sẵn sàng thông cảm và tha thứ cho nhau, gia đình ấy chắc chắn hạnh phúc.

Câu chuyện minh họa về thiên đàng và hỏa ngục sau đây thật phù hợp với thiên đàng và hỏa ngục của gia đình. Cả thiên đàng và hỏa ngục đều dùng bữa với những thức ăn y như nhau, trong khung cảnh giống y hệt nhau, trong đó mỗi người đều phải dùng một đôi đũa dài cả thước để ăn. Thiên đàng và hỏa ngục chỉ khác nhau ở chỗ này: trên thiên đàng, mọi người không ai tự gắp thức ăn cho mình, mà gắp cho người khác ăn, vì thế, ai cũng được ăn no. Còn trong hỏa ngục, mọi người chỉ biết nghĩ đến mình, chỉ biết gắp thức ăn cho mình, nhưng vì đũa quá dài, chẳng ai gắp cho mình được gì cả, thế rồi chẳng ai được no, hết giờ ăn mà đói vẫn hoàn đói, từ đó họ trở nên căm thù nhau. – Cũng vậy, trong gia đình, không ai có thể tự tạo hạnh phúc cho mình mà không cần đến người khác, nên nếu ai cũng chỉ biết lo cho hạnh phúc của mình, thì chẳng ai hạnh phúc cả, và rồi sẽ phát sinh đủ thứ đau khổ. Muốn gia đình hạnh phúc, thì mọi người trong nhà đều phải biết lo cho nhau, tạo hạnh phúc cho nhau, đồng thời biết chấp nhận những khiếm khuyết của nhau.

Con người là hình ảnh của Thiên Chúa, mà Thiên Chúa là tình thương, nên bản chất của con người cũng là tình thương. Nhưng vì ảnh hưởng tội nguyên tổ, bản chất ấy đã bị tổn thương và hư hoại phần nào, khiến con người bị giằng co, xâu xé bởi khuynh hướng vị kỷ và bản chất yêu thương của mình. Nhưng chiều theo tính vị kỷ ấy thì sẽ dẫn đến đau khổ. Chỉ khi con người sống phù hợp với bản tính của mình là yêu thương, và thể hiện cụ thể tình yêu thương ấy với những người chung quanh, thì con người mới hạnh phúc. Ngược lại, nếu sống ích kỷ, con người sẽ đau khổ và làm cho những người chung quanh đau khổ.

4. Làm sao để có tình yêu thương?

Nhưng làm sao người ta có thể yêu thương nếu không có một động lực, một nguồn yêu thương ngay từ trong lòng mình phát xuất ra? Làm sao có được nguồn yêu thương ấy? – Vì “tình yêu bắt nguồn từ Thiên Chúa” (1Ga 4, 7), nên chính “Thiên Chúa là nguồn yêu thương” (2Cr 13, 11). Vì thế, muốn yêu thương, muốn loại trừ tính vị kỷ, con người phải kết hợp với Thiên Chúa, nguồn tình thương. Kết hợp với Thiên Chúa là luôn luôn ý thức rằng mình “là hình ảnh của Thiên Chúa” (St 1, 27; 9, 6; Ep 4, 24), được tạo dựng giống như Thiên Chúa (x. St 1, 26; 5, 1), và “được thông phần bản tính của Thiên Chúa” (2Pr 1, 4), một Thiên Chúa mà bản chất là yêu thương (x. 1Ga 4, 8. 16).

Nếu bản chất của Thiên Chúa là yêu thương, mà ta giống Ngài, là hình ảnh của Ngài, được thông phần bản tính Ngài, tất nhiên bản chất của ta cũng là yêu thương. Ta không yêu thương hay không yêu thương đủ, là ta sống không đúng với bản chất của ta. Nhờ thường xuyên ý thức như thế, tình yêu và sức mạnh của tình yêu ngày càng lớn mạnh trong ta, khiến ta ngày càng yêu thương mọi người cách dễ dàng, và sẵn sàng làm tất cả để mọi người được hạnh phúc. Sống đúng với bản chất của mình là yêu thương, là hình ảnh Thiên Chúa, chính là sống thánh thiện.

 5. Gia đình là trường thực tập yêu thương
  
Để giúp con người có một môi trường thuận lợi hầu phát triển và thực tập yêu thương, Thiên Chúa đã tạo dựng và đặt con người sống trong gia đình. Khi vừa sinh ra, mọi người đều nhận được một tình thương dồi dào, vô điều kiện và vô vị lợi của cha mẹ – một tình yêu thuộc loại tốt đẹp nhất trên thế gian – đồng thời được mời gọi đáp lại tình yêu thương ấy. Đó là một bài tập hết sức dễ dàng về yêu thương mà mỗi người đều có thể thực tập ngay từ thuở nhỏ. Không gì dễ dàng bằng yêu thương người đã hết lòng yêu thương mình và hy sinh cho mình. Tình yêu đáp trả này tự phát sinh do mình nhận được từ cha mẹ mình quá nhiều. Đây là thứ tình yêu nhận nhiều hơn cho. Lớn lên một chút, mỗi người khám phá ra, ngoài cha mẹ mình, thì các anh chị em mình cũng yêu thương mình bằng một tình yêu tương đối vô vị lợi. Với tình yêu này, con người phải tập cho nhiều hơn và nhận ít hơn so với tình yêu đối với cha mẹ.

Ngoài gia đình, mỗi người còn có bạn bè do chính mình chủ động chọn lựa và yêu thương. Đến khi trưởng thành, con người có tình yêu hôn nhân. Tình yêu này là một tình yêu do mình chọn lựa và tương đối có điều kiện: mình yêu và đòi hỏi người kia phải yêu lại, nếu đơn phương thì tình yêu sẽ khó tồn tại. Con người chủ động hiến thân và hy sinh cho người mình yêu với một ý chí tương đối tự do. Đến khi có con cái, con người tự nhiên yêu thương con bằng một tình yêu vô vị lợi, vô điều kiện, không lựa chọn. Đó là tình yêu cao cả nhất và phản ảnh trung thực nhất tình yêu của Thiên Chúa mà con người kinh nghiệm được trong đời sống gia đình.

Như vậy con người thực tập yêu thương – từ dễ đến khó – trong môi trường gia đình. Trong gia đình, con người kinh nghiệm tình yêu một cách tự nhiên và sâu xa: con người được yêu và chủ động yêu, nhận hy sinh từ người khác và chính mình cũng hy sinh cho người khác. Nhưng con người còn được mời gọi yêu một cách rộng rãi hơn, vượt khỏi phạm vi gia đình, để đến với những người ngoài, không ruột thịt máu mủ. Các tín đồ trong các tôn giáo, đặc biệt người Kitô hữu, còn được mời gọi yêu thương cả những người không hề quen biết, thậm chí cả kẻ thù. Yêu như thế khó hơn rất nhiều, nhưng nhờ áp dụng những kinh nghiệm về yêu thương đã có trong gia đình, việc yêu thương người ngoài gia đình, thậm chí kẻ thù, trở nên khả thi hơn. Như vậy, vai trò của gia đình trong việc đào luyện tình yêu cho con người thật hết sức quan trọng, không gì thay thế được.

Nếu những người trong gia đình – là những người tự nhiên yêu thương ta nhất và ta dễ yêu thương nhất – mà ta không yêu thương được, thì làm sao ta có thể yêu những người xa lạ, những người khó có cảm tình, nhất là những người thường gây bất lợi cho ta? Kinh nghiệm cho tôi thấy, những ai đối xử không tốt với chính cha mẹ, vợ/chồng con, anh em mình, thì khi họ đối xử tốt với những người khác, sự tốt ấy thật đáng nghi ngờ! Rất có thể chỉ là giả tạo để đạt một mục đích nào đó, chứ không thể là yêu thương thực tình được!

Vậy, các bậc cha mẹ hãy cho con cái mình những kinh nghiệm về yêu thương tốt đẹp nhất có thể. Đó là những gì tốt đẹp nhất mà họ có thể làm cho con cái họ!

CẦU NGUYỆN

Lạy Mẹ Maria, Mẹ và thánh Giuse đã làm cho gia đình mình thành một gia đình gương mẫu vì mọi người trong đó đều yêu thương nhau. Xin cho mọi người trong gia đình con thực tập từ bỏ tính ích kỷ để biết yêu thương nhiều hơn, hy sinh cho nhau nhiều hơn, để nên thánh thiện hơn.    


(Nguyễn Chính Kết)