Thứ Tư, 9 tháng 3, 2016

Chay-04-C


Thứ Tư, ngày 09 tháng 3 năm 2016

Chay-04-C

(Nguyễn Chính Kết)


Chúa Nhật thứ 4 Mùa Chay
 (Năm C − ngày 6-3-2016)

Tình thương của Thiên Chúa
đối với những người tội lỗi 




ĐỌC LỜI CHÚA

·    Gs 5,9a.10-12: (9) Đức Chúa phán với ông Giôsuê: «Hôm nay Ta đã cất khỏi các ngươi cái ô nhục của người Ai Cập».

·    2Cr 5,17-21: (17) Ai ở trong Đức Kitô đều là thọ tạo mới. Cái cũ đã qua, cái mới đã có rồi. (19) Trong Đức Kitô, Thiên Chúa đã cho thế gian được hoà giải với Người. Người không còn chấp tội nhân loại nữa.


·    TIN MỪNG: Lc 15,1-3.11-32

Dụ ngôn người cha nhân hậu

(1) Khi ấy, tất cả những người thu thuế và những người tội lỗi thường đến gần Ðức Giêsu mà nghe Người. (2) Còn những người thuộc phái Pharisêu và các kinh sư thì lẩm bẩm: “Ông này đón tiếp phường tội lỗi và ăn uống với chúng”.(3) Ðức Giêsu mới kể cho họ dụ ngôn này:

(11) «Một người kia có hai con trai. (12) Người con thứ nói với cha rằng, “Thưa cha, xin cho con phần tài sản con được hưởng”. Và người cha đã chia của cải cho hai con. (13) Ít ngày sau, người con thứ thu góp tất cả rồi trẩy đi phương xa. Ở đó anh ta sống phóng đãng, phung phí tài sản của mình. (14) Khi anh ta đã ăn tiêu hết sạch, thì lại xảy ra trong vùng ấy một nạn đói khủng khiếp. Và anh ta bắt đầu lâm cảnh túng thiếu, (15) nên phải đi ở đợ cho một người dân trong vùng; người này sai anh ta ra đồng chăn heo. (16) Anh ta ao ước lấy đậu muồng heo ăn mà nhét cho đầy bụng, nhưng chẳng ai cho. (17) Bấy giờ anh ta hồi tâm và tự nhủ, “Biết bao nhiêu người làm công cho cha ta được cơm dư gạo thừa, mà ta ở đây lại chết đói! (18) Thôi, ta đứng lên, đi về cùng cha và thưa với người, “Thưa cha, con thật đắc tội với Trời và với cha,(19) chẳng còn đáng gọi là con cha nữa. Xin coi con như một người làm công cho cha vậy”.

(20) Thế rồi anh ta đứng lên đi về cùng cha. Anh ta còn ở đằng xa, thì người cha đã trông thấy. Ông chạnh lòng thương, chạy ra ôm cổ anh ta và hôn lấy hôn để. (21) Bấy giờ người con nói rằng, “Thưa cha, con thật đắc tội với Trời và với cha, chẳng còn đáng gọi là con cha nữa…” (22) Nhưng người cha liền bảo các đầy tớ rằng, “Mau đem áo đẹp nhất ra đây mặc cho cậu, xỏ nhẫn vào ngón tay, xỏ dép vào chân cậu, (23) rồi đi bắt con bê đã vỗ béo làm thịt để chúng ta mở tiệc ăn mừng! (24) Vì con ta đây đã chết mà nay sống lại, đã mất mà nay lại tìm thấy”. Và họ bắt đầu ăn mừng.

(25) “Lúc ấy người con cả của ông đang ở ngoài đồng. Khi anh ta về gần đến nhà, nghe thấy tiếng đàn ca nhảy múa,(26) liền gọi một người đầy tớ ra mà hỏi xem có chuyện gì. (27) Người ấy trả lời: “Em cậu đã về, và cha cậu đã làm thịt con bê béo, vì được lại cậu ấy mạnh khoẻ”. (28) Người anh cả liền nổi giận và không chịu vào nhà. Nhưng cha cậu ra năn nỉ. (29) Cậu trả lời cha: “Cha ơi, đã bao nhiêu năm trời con hầu hạ cha, và chẳng khi nào trái lệnh, thế mà chưa bao giờ cha cho lấy được một con dê con để con ăn mừng với bạn bè. (30) Còn thằng con của cha đó, sau khi đã nuốt hết của cải của cha với bọn điếm, nay trở về, thì cha lại giết bê béo ăn mừng!”

(31) “Nhưng người cha nói với anh ta: “Con à, lúc nào con cũng ở với cha, tất cả những gì của cha đều là của con. (32)Nhưng chúng ta phải ăn mừng và hoan hỷ, vì em con đây đã chết, nay lại sống, đã mất, nay lại tìm thấy”».

CHIA SẺ

Câu hỏi gợi ý:

1.   Dụ ngôn trong bài Tin Mừng hôm nay, trước đây, Giáo Hội thường gọi là “dụ ngôn người con hoang đàng”, nhưng sau này lại gọi là “dụ ngôn người cha nhân hậu”. Có gì thay đổi trong quan niệm của Giáo Hội?

2.   Có ai trong cuộc đời mà không dại dột, lầm lỡ, sa ngã không? Sự dại dột, lầm lỡ, sa ngã ấy có thể đem lại một lợi ích nào cho đương sự không?

3.   Khi đứa con hoang đàng trở về, những kinh nghiệm về quá khứ tội lỗi của nó có ích lợi gì cho đời sống sau này của nó bên cha nó không? Ích lợi gì?

4.   Ta cần có quan niệm và thái độ nào đối với những người tội lỗi muốn thật lòng trở về đường ngay nẻo chính? Thiên Chúa quan niệm thế nào?

Suy tư gợi ý:

1. Cách nhìn của Giáo Hội về dụ ngôn này có sự thay đổi sau Công Đồng Vatican II

Trước Công Đồng Vatican II, Giáo Hội quan tâm nhiều đến con người và tình trạng tội lỗi của con người, đồng thời đặt nặng vấn đề luân lý, lề luật, tính công bằng và đáng kính sợ của Thiên Chúa. Cái nhìn của Giáo Hội khi ấy có tính nghiêm khắc của một người Thầy hơn là một người Mẹ, nên Giáo Hội nhìn dụ ngôn trên theo hướng đó, và gọi nó là «dụ ngôn người con hoang đàng». Với cách nhìn đó, Giáo Hội kêu gọi các tín hữu hãy sám hối, hoán cải, từ bỏ con đường tội lỗi và trở về với Thiên Chúa.

Sau Thông điệp «Mẹ và Thầy» (Mater et Magistra) của Đức Gioan XXIII, và sau Công Đồng Vatican II, Giáo Hội quan tâm nhiều hơn đến bản chất đáng yêu và tình thương vô biên của Thiên Chúa đối với con người như Đức Giêsu đã từng quan niệm, hơn là quá chú tâm vào tính công bình và đáng kính sợ của Thiên Chúa như Gioan Tẩy Giả quan niệm (x. Mt 3,10-12). Cái nhìn của Giáo Hội sau Công Đồng Vatican II mang tính bao dung và đậm đà tình yêu thương của một người Mẹ hơn là một người Thầy, và nhấn mạnh đến tình yêu của Thiên Chúa hơn là đặt nặng tính tội lỗi của con người, nên Giáo Hội gọi dụ ngôn trên là «dụ ngôn người cha nhân hậu».

Cả hai cách gọi đều đúng và bổ túc cho nhau, như hai mặt của một tờ giấy. Nhưng phải nhìn nhận rằng cách nhìn của Giáo Hội sau Công Đồng Vatican II có tính tích cực hơn, tập trung vào Thiên Chúa hơn vào con người, vào tình thương của Thiên Chúa hơn vào tình trạng tội lỗi của con người, điều này phù hợp cách nhìn của Chúa Giêsu và người cha trong dụ ngôn hơn. Thật vậy, đối với đứa con bất hiếu, tình yêu của người cha trong dụ ngôn đối với đứa con thân yêu do mình dứt ruột đẻ ra lớn hơn rất nhiều so với nỗi buồn giận do nó gây ra cho mình.

Cách nhìn của Giáo Hội trước Công Đồng Vatican II đối với tình trạng tội lỗi của con người có vẻ phù hợp với cách nhìn của người Pharisêu và người con cả trong dụ ngôn hơn cách nhìn của Chúa Giêsu và người cha nhân hậu đối với đứa con bất hiếu của mình. Thật vậy, trong khi Chúa Giêsu sẵn sàng «ăn uống với bọn thu thuế, và quân tội lỗi» (Mt 9,11) để cảm hóa họ, thì thái độ của người Pharisêu là khinh bỉ, tẩy chay họ như một hình thức trừng phạt, và không chấp nhận cách xử sự quá nhân hậu và khoan dung như thế của Ngài (x. Lc 15,2; 7,39).

2. Dụ ngôn người cha nhân hậu và chủ đề Năm Thánh 2016

Cách nhìn mới mẻ của Giáo Hội về dụ ngôn trên cũng chính là tinh thần hay chủ đề của Năm Thánh 2016 kính Lòng Thương Xót của Thiên Chúa.

Chính vì nhận ra tình thương và tin tưởng vào tình thương và sự tha thứ của người cha mà đứa con bất hiếu mới dám nghĩ đến việc quay trở về với cha mình. Nếu nó đoán rằng mình trở về nhà sẽ bị cha mình trách mắng thậm tệ và đuổi cổ đi, chắc chắn nó sẽ không dám quay về dù rất muốn điều đó, và nó sẽ phải tiếp tục sống cuộc sống bê bối trong lầm than. Có nhấn mạnh vào tình thương vô biên sẵn sàng tha thứ của Thiên Chúa thì những người tội lỗi mới tin tưởng vào tình thương của Thiên Chúa và có nhiều động lực hơn để sám hối và trở về với Thiên Chúa. Còn cứ nhấn mạnh tới tình trạng tội lỗi của con người để rồi kết án họ, nhấn mạnh đến hình phạt dành cho họ sẽ làm cho họ có ấn tượng sai lầm về bộ mặt quá nghiêm khắc và đáng sợ của Thiên Chúa thì chỉ làm cho họ thất vọng, khiến họ tiếp tục sống cuộc sống cũ đầy tội lỗi. Cách này không hẳn là khôn ngoan về mặt tâm lý.

Cách hành xử của Đức Giáo Hoàng Phanxicô vào dịp Năm Thánh này rất phù hợp với tinh thần của bài Tin Mừng hôm nay. Mặc dù ngài vẫn coi việc ly dị là phản Tin Mừng, nghịch ý Thiên Chúa, nhưng ngài vẫn quyết định cho các Kitô hữu đã ly dị và tái hôn không bị dứt phép thông công và không bị đối xử như những người tội lỗi hay ngoài Giáo Hội. Ngài xác định họ vẫn luôn luôn là con cái và là thành phần của Giáo Hội. Cách hành xử này phù hợp với quan niệm mới của Công Đồng Vatican II. Thật vậy, Chúa Giêsu đã trao chìa khóa Nước Trời cũng như quyền cầm buộc và tháo cởi cho Phêrô mà các vị Giáo Hoàng là những người kế vị (x. Mt 16,18-19). Từ xưa đến nay, ngoài bí tích hòa giải ra, chúng ta thấy Giáo Hội thường sử dụng quyền cầm buộc chứ rất ít khi sử dụng quyền tháo cởi. Điều này khiến người ta thấy Giáo Hội có một bộ mặt nghiêm khắc của một người Thầy, hơn là bộ mặt hiền từ, nhân hậu đầy yêu thương của một người Mẹ. Không phải là vô ý mà Đức Giáo hoàng Gioan XXIII, trong Thông Điệp «Mẹ và Thầy», đã sử dụng chữ Mater (Mẹ) trước chữ Magistra (Thầy) để nói về bản chất của Giáo Hội đối với các con cái mình. Giáo Hội vừa là Mẹ vừa là Thầy, nhưng là Giáo Hội muốn mình là Mẹ nhiều hơn là Thầy. Thật vậy, Giáo Hội phải phản ảnh tình yêu thương là bản chất của Thiên Chúa nhiều hơn tính công bằng hay thưởng phạt của Ngài, mặc dù Ngài có cả hai tính chất ấy. Thánh Kinh định nghĩa «Thiên Chúa là Tình Yêu» (1Ga 4,8.16) chứ không định nghĩa Ngài là Công Bằng. Đức Giáo Hoàng Phanxicô đã hành động theo chiều hướng này.

Tuy nhiên, bất kỳ một sự đổi mới nào trong xã hội cũng như trong Giáo Hội cũng đều bị chống đối bởi những người có khuynh hướng bảo thủ. Ngày xưa, các tư tế và những người Pharisêu không thể chấp nhận được những quan niệm cũng như tư tưởng mang tính cách mạng của Đức Giêsu. Ngay cả Giáo Hội dưới thời Giáo Hoàng Urban VIII thế kỷ 17 cũng đã từng kết án Thầy dòng Galilê và Linh mục Bruno chỉ vì những vị này có những tuyên bố khoa học ngược lại với những quan niệm truyền thống trong Giáo Hội. Khuynh hướng bảo thủ trong Giáo Hội cũng đã từng kết án các linh mục như Roberto Nobili, Mateo Ricci, Karl Rahner, Hồng y Yves Congar, v.v... là những người dám tư tưởng và hành động theo lương tri dưới ánh sáng của Tin Mừng, chứ không theo những gì mà các vị cảm thấy chưa đúng trong truyền thống. Một thời gian sau, chính Giáo Hội đã phải công nhận rằng họ suy nghĩ đúng hơn. Số phận của các ngôn sứ, tiên tri hay những người có tư tưởng đi trước thời đại trong mọi thời đều bị như vậy cả. Những người bảo thủ thường quan niệm rằng những gì đã được truyền thống hay Giáo Hội công nhận là đúng thì sẽ vĩnh viễn là đúng, cần phải bảo vệ, nên mọi thay đổi đều là sai lầm.

3. Lầm lỡ, sa ngã là chuyện thường, nhưng cần trỗi dậy

Xin trở về với dụ ngôn của bài Tin Mừng. Cuộc đời ai mà chẳng có lúc lầm lỡ, nhất là trong thời mình còn non người trẻ dạ. Thật vậy, có ai nên khôn mà chẳng dại đôi lần? Và nhiều khi nhờ cái dại mà trở nên khôn, tương tự như «thất bại là mẹ thành công». Kết quả của sự dại dột về mặt tâm linh là tình trạng tội lỗi. Nhiều khi nhờ có một quá khứ tội lỗi mà người ta trở nên khiêm nhường hơn, thông cảm với những lầm lỗi của người khác hơn. Sự khiêm nhường và thông cảm ấy lại là một yếu tố quan trọng và cần thiết của sự thánh thiện. Như vậy cái dại, sự lầm lỡ, cũng như tội lỗi không chỉ có những khía cạnh tiêu cực, mà chúng vẫn có thể có những khía cạnh tích cực của chúng. Trái lại, cái khôn, sự thành công, sự tốt lành, trong sạch không chỉ có những mặt thuận lợi, tốt đẹp, mà vẫn có thể có mặt trái nó: nó cũng có thể làm ta kiêu căng, tự mãn, là mối tội lớn nhất của con người.

Điều quan trọng để sự dại dột, lầm lỡ hay tội lỗi của mình trở thành một cái gì tích cực và có lợi, đó là sự chân thành ăn năn hối lỗi, thật lòng muốn quay trở về đường ngay nẻo chính, biết rút kinh nghiệm từ những sa ngã và yếu đuối của mình… Lúc đó, Thiên Chúa sẽ biến sự dại dột, lầm lỡ hay tình trạng tội lỗi của ta thành một thuận lợi, một hồng phúc, đến nỗi cuối cùng chúng trở thành ích lợi cho sự nên thánh của ta hơn là nếu ta không hề lầm lỡ hay phạm tội. Vì nếu người ta có thể biến điều xấu thành điều tốt được, thì Thiên Chúa có thể biến điều xấu nhất thành điều tốt nhất. Có như thế, Ngài mới chính là Thiên Chúa toàn năng!

4.  Kinh nghiệm phải trả giá của đứa con hoang đàng

Nếu cả hai đứa con của người cha đều ở nhà cả, thì không có gì đáng nói. Cả hai đứa sẽ sống trong cảnh êm đềm, ấm cúng của gia đình, và chẳng biết khổ là gì. Nhưng nhiều khi cuộc đời không xuôi chảy như người ta nghĩ. Cha mẹ trong nhà nhiều khi không ngờ có những đứa con không chịu đi theo chiều hướng mình đã hoạch định cho chúng. Chúng muốn ra khỏi vòng tay yêu thương và chăm sóc của mình.

Người cha trong bài Tin Mừng hôm nay đã gặp cảnh ấy. Đứa con thứ đã yêu cầu ông chia gia tài cho nó để nó thoát ly gia đình. Sau khi phân tích cho nó thấy cái hay cái dở trong dự định của nó, ông đã thực hiện theo quyết định của nó, vì ông tôn trọng tự do và sự trưởng thành của con cái. Ông hy vọng nó sẽ chịu khó làm ăn và sự may mắn sẽ đến với nó. Nhưng nó không được như vậy

Rời xa gia đình, nó đã bị cám dỗ sống đời xa hoa, phóng túng và tội lỗi. Kết quả là chẳng bao lâu, phần tài sản mà người cha chia cho nó đã hết nhẵn. Thế là nó lâm cảnh túng quẫn, nghèo khổ đến tận cùng. Thật đáng đời cho đứa con phung phá! Đến bây giờ nó mới biết thế nào là hậu quả của một cuộc sống hưởng thụ trong tội lỗi. Lâm vào cảnh này nó mới biết thế nào là nghèo khổ, thiếu thốn, đói khát, lạnh lẽo, nhục nhã, cô đơn, bị đời hất hủi… Như vậy, trong cuộc đời, nó đã trải qua nhiều kinh nghiệm quí giá:

– Nó đã được sống trong cảnh ấm no sung túc của gia đình, nhưng lúc ấy nó không cảm thấy đó là hạnh phúc.

– Nó đã được sống trong khoái lạc của một cuộc đời tội lỗi, trác táng. Lúc đó, rằng sướng thì có sướng, nhưng cái sướng ấy dẫn đến những hậu quả thật xấu, thật hãi hùng.

– Và cuối cùng nó phải trải qua một kinh nghiệm khủng khiếp do sự dại dột của nó. Chỉ lúc này, nó mới nhận ra cuộc sống êm đềm ấm cúng của một người con trong gia đình mà nó từ bỏ, cuộc sống ấy thật là hạnh phúc. Nó thấy dù chỉ được làm công trong gia đình ấy cũng đã hạnh phúc lắm rồi! Hóa ra hạnh phúc chỉ là hạnh phúc sau khi bị mất, hay sau khi đã nếm mùi đau khổ.

Bị tuột xuống bậc thang tận cùng của xã hội, cuộc đời của nó hoàn toàn đi vào bế tắc. Làm gì bây giờ? Cuối cùng, nó tìm ra một lối thoát duy nhất khả dĩ có thể thoát khỏi cơn khốn cùng hiện tại: đó là trở về nhà cha nó, bày tỏ lòng sám hối, xin lỗi cha nó, và chấp nhận tất cả mọi hình phạt mà cha nó dành cho nó. Và nó đã quyết định trở về.

5.  Thái độ của người cha

Khi nó trở về, người cha đã nhìn thấy và nhận ra nó. Nó đã bị cuộc sống tội lỗi và khốn khổ làm thay hình đổi dạng đi ít nhiều, thế mà cha nó đã nhận ra nó dù nó còn ở đằng xa. Thì ra từ khi nó ra đi, cha nó hằng nhớ thương và ngày nào cũng ra đường ngóng trông nó trở về. Ông đã phải đau khổ rất nhiều vì nó. Chắc chắn ông giận nó lắm, nhưng giận thì rất giận, mà thương thì vẫn rất thương. Cơn giận khiến ông dự tính khi nó trở về sẽ phải đập hay mắng cho nó một trận nên thân. Nhưng trong thực tế, khi gặp lại nó, tình thương tràn ngập lòng ông và giập tắt cơn giận. Ông không còn nghĩ đến quá khứ hư đốn hay tội lỗi của nó, mà lòng ông chỉ tràn ngập vui mừng vì cầm bằng như nó đã chết mà nay đã sống lại. Còn niềm vui nào lớn bằng niềm vui thấy đứa con mình vô cùng yêu thương đã chết nay sống lại?

6.  Giá trị của đứa con hoang đàng khi trở về

Khi một người tội lỗi quay trở về đường ngay nẻo chính, người đời – và khá nhiều Kitô hữu – thường coi người ấy như một «công dân hạng hai», một người có tỳ vết. Từ đó, họ đối xử với người ấy với một con mắt nghi ngờ, đầy thành kiến, không dám tín nhiệm, với nỗi lo ngại «ngựa quen đường cũ». Họ có lý của họ, có sự khôn ngoan của họ. Nhưng nhiều khi cách đối xử đầy thành kiến và nghi ngờ ấy khiến cho người tội lỗi ấy muốn thật sự trở lại đời sống lương thiện không ngóc đầu lên được, và nhiều khi buộc người ấy phải trở lại con đường cũ đầy tội lỗi mới có thể sống được. Đó chính là thái độ của người anh cả trong bài Tin Mừng hôm nay. Nhưng đó không phải là thái độ hay cách suy nghĩ của người cha, lại càng không phải là quan niệm hay cách hành xử của Thiên Chúa hay của các môn đệ Chúa.

Theo quan điểm của người cha, khi đứa con hoang đàng trở về, đó là một điều vui mừng không chỉ cho chính nó, mà cho cả gia đình. Trước hết, có thể coi nó như «đã chết nay sống lại, đã mất nay lại tìm thấy». Ngoài ra, ông còn thấy nó trở về mang theo những kinh nghiệm hay bài học quí báu về hạnh phúc và đau khổ. Nhờ kinh nghiệm này, nó có thể trở nên hữu ích hơn, không chỉ cho chính nó mà cho cả gia đình. Nó đã kinh nghiệm được hậu quả của tội lỗi, của sự ham lạc thú, của sự bất hiếu… là những kinh nghiệm mà người anh cả chỉ biết cách lý thuyết chứ không có được. Nhờ đó, nó có thể quyết tâm trở nên người tốt; quyết tâm ấy nếu được củng cố sẽ làm cho nó trở nên tốt hơn, bản lĩnh hơn.

Đức Giêsu cũng cho thấy tâm lý của Thiên Chúa khi một người tội lỗi thật lòng sám hối và trở về với Ngài: «Trên trời cũng thế, ai nấy sẽ vui mừng vì một người tội lỗi ăn năn sám hối, hơn là vì chín mươi chín người công chính không cần phải sám hối ăn năn» (Lc 15,7). Ta sẽ ngạc nhiên và lấy làm phi lý về điều ấy nếu ta không biết rằng: người tội lỗi thật lòng sám hối và quay về với Thiên Chúa, sẽ được đánh giá rất cao, đôi khi cao hơn những người lành thánh không cần quay trở lại. Tại sao vậy? Vì khi đã phạm biết bao tội lỗi mà được tha, người ấy sẽ cảm nhận được tình yêu của Thiên Chúa đối với mình một cách cụ thể hơn. Nhờ đó họ yêu mến và sẵn sàng hiến thân cho Ngài quảng đại hơn, vì như Đức Giêsu nói: «Ai được tha nhiều thì yêu mến nhiều. Còn ai được tha ít thì yêu mến ít» (Lc 7,47). Tuy nhiên, nếu không có ơn Chúa và không thật sự sám hối, họ rất dễ sa ngã trở lại vì khuynh hướng «ngựa quen đường cũ».

Nhờ kinh nghiệm thực tế về tội lỗi, họ thấm thía nhận ra sự mỏng dòn, yếu đuối của con người trước các cơn cám dỗ. Nhờ đó họ trở nên khiêm nhường hơn, thông cảm sâu xa hơn với những người yếu đuối. Họ không dám kết án những yếu đuối của người khác như những người chưa cảm nghiệm hay đã quên mất sự yếu đuối của mình trong quá khứ. Nhờ được Thiên Chúa tha thứ, họ trở nên dễ dàng tha thứ cho anh chị em mình hơn. Khiêm nhường, thông cảm, tha thứ… lại là những đức tính hết sức quí giá và tối cần cho sự thánh thiện. Thiên Chúa coi người có những đức tính này – dù quá khứ của họ có tội lỗi đến đâu – còn cao giá hơn cả những người thích tự hào về sự trong sạch dù có thật và không kém thiên thần của mình. Dụ ngôn người Pharisêu và người thu thuế lên đền thờ cầu nguyện chứng tỏ điều ấy (x. Lc 18,9-14). Vậy, chúng ta cần quan niệm và hành xử giống Thiên Chúa đối với những người tội lỗi muốn thật lòng trở lại.

CẦU NGUYỆN

Lạy Cha, con thường không có thái độ bao dung và quảng đại đối với những người tội lỗi, lỡ lầm, muốn thực tình hối cải và làm lại cuộc đời. Con vẫn thường giữ mãi thành kiến xấu về họ, khiến họ có muốn làm lại cuộc đời cũng gặp rất nhiều trở ngại do chúng con gây ra. Xin Cha giúp chúng con nhìn và cư xử với họ theo quan điểm của Cha, là nhận ra những giá trị tích cực trong quá khứ tội lỗi của họ. Amen.      

Không có nhận xét nào:

Chủ Nhật, 7 tháng 2, 2016

TN-05-C



Chúa Nhật thứ 5 Thường Niên
 (Năm C − ngày 7-2-2016)



ĐỌC LỜI CHÚA

·    Is 6,1-2a.3-8: (3) «Đức Chúa các đạo binh là Đấng Thánh! Cả mặt đất rạng ngời vinh quang Chúa!»

·    1 Cr 15,1-11: (10) Tôi có là gì thì cũng là nhờ ơn Thiên Chúa, và ơn Người ban cho tôi đã không vô hiệu; trái lại, tôi đã làm việc nhiều hơn tất cả những vị khác, nhưng không phải tôi, mà là ơn Thiên Chúa cùng với tôi.

·    TIN MỪNG: Lc 5,1-11

Đức Giêsu kêu gọi bốn môn đệ đầu tiên
(// Mt 4,18-22; Mc 1,16-20)

 (1) Một hôm, Đức Giêsu đang đứng ở bờ hồ Ghennêxarét, dân chúng chen lấn nhau đến gần Người để nghe lời Thiên Chúa. (2) Người thấy hai chiếc thuyền đậu dọc bờ hồ, còn những người đánh cá thì đã ra khỏi thuyền và đang giặt lưới. (3) Đức Giêsu xuống một chiếc thuyền, thuyền đó của ông Simôn, và Người xin ông chèo thuyền ra xa bờ một chút. Rồi Người ngồi xuống, và từ trên thuyền Người giảng dạy đám đông.

 (4) Giảng xong, Người bảo ông Simôn: «Chèo ra chỗ nước sâu mà thả lưới bắt cá». (5) Ông Simôn đáp: «Thưa Thầy, chúng tôi đã vất vả suốt đêm mà không bắt được gì cả. Nhưng vâng lời Thầy, tôi sẽ thả lưới». (6) Họ đã làm như vậy, và bắt được rất nhiều cá, đến nỗi hầu như rách cả lưới. (7) Họ làm hiệu cho các bạn chài trên chiếc thuyền kia đến giúp. Những người này tới, và họ đã đổ lên được hai thuyền đầy cá, đến gần chìm.

 (8) Thấy vậy, ông Simôn Phêrô sấp mặt dưới chân Đức Giêsu và nói: «Lạy Chúa, xin tránh xa con, vì con là kẻ tội lỗi!» (9) Quả vậy, thấy mẻ cá vừa bắt được, ông Simôn và tất cả những người có mặt ở đó với ông đều kinh ngạc. (10) Cả hai người con ông Dêbêđê, là Giacôbê và Gioan, bạn chài với ông Simôn, cũng kinh ngạc như vậy. Bấy giờ Đức Giêsu bảo ông Simôn: «Đừng sợ, từ nay anh sẽ là người thu phục người ta». (11) Thế là họ đưa thuyền vào bờ, rồi bỏ hết mọi sự mà theo Người. 

CHIA SẺ

Câu hỏi gợi ý:

1.   Đặt mình vào địa vị của Simon, bạn sẽ nghĩ thế nào khi đã đánh cá suốt đêm mà không được con cá nào, mà Thầy mình lại bảo đánh cá lần nữa?

2.   Ta có thể rút ra bài học nào từ sự kiện trên? Giữa ý Chúa và ý ta, thực hiện ý của ai thì đem lại kết quả tốt đẹp cho ta hơn?

Suy tư gợi ý:

1.       Cứ tuân theo ý Chúa, sẽ chứng kiến nhiều việc lạ lùng

Bài Tin Mừng hôm nay cho thấy: nhờ vâng lời Đức Giêsu, Simon đã thành công trong mẻ lưới cá đêm ấy. Điều đáng lưu ý là lệnh truyền hay ý muốn của Đức Giêsu trong trường hợp này rất ngược với ý muốn hay kinh nghiệm nhà nghề của Simon. Ông đã đánh cá suốt đêm mà không bắt được con cá nào, nên theo kinh nghiệm bao năm trong nghề của ông, ông nghĩ nếu có tiếp tục đánh nữa thì cũng chẳng có kết quả gì. Mặc dù vậy, ông vẫn vâng lời Thầy mình, nhờ đó ông đã tận mắt chứng kiến sự lạ lùng xảy ra.

Đó là một bài học cho chúng ta trong cuộc đời Kitô hữu giữa trần gian. Chúng ta – dù là người được mọi người coi là khôn ngoan nhất – không thể biết chắc chắn hành động như thế nào thì sẽ đem lại kết quả tốt đẹp nhất. Rất nhiều tính toán – mà ai cũng phải công nhận đó là những tính toán hết sức khôn ngoan kiểu trần gian – lại dẫn đến những kết quả bi thảm. Chính vì thế dân gian mới có câu: «May hơn hay», «Người tính không bằng Trời tính», «Mưu sự tại nhân, thành sự tại Thiên». Bài Tin Mừng hôm nay cho thấy: để thành công và hạnh phúc, tốt nhất ta nên hành động theo ý muốn của Thiên Chúa. Lý do: Vì Ngài yêu thương ta hơn chính ta yêu thương mình, luôn mong muốn ta được hạnh phúc; Ngài lại khôn ngoan vô cùng, chẳng những biết cách tốt nhất và hữu hiệu nhất để ta hạnh phúc, mà còn có quyền năng vô biên để giúp ta thực hiện cách tốt nhất ấy nữa. Vì thế, cách khôn ngoan nhất của ta là phó mặc vận mạng của mình trong tay Ngài, và cương quyết làm tất cả những gì Ngài muốn ta làm.

Rất nhiều trường hợp, điều Ngài muốn ngược lại với sự khôn ngoan hay cách tính toán của ta. Nhưng nếu ta cứ quyết tâm làm theo ý Ngài thì kết quả cuối cùng chắc chắn sẽ có lợi cho ta hơn là ta làm theo ý muốn hay sự khôn ngoan của ta. Người Trung Hoa có câu: «Thuận Thiên giả tồn, nghịch Thiên giả vong» (Hành động thuận theo ý Trời thì sẽ tồn tại, còn làm ngược lại ý Trời thì sẽ tiêu vong). Tuy nhiên, khi hành động theo ý Thiên Chúa, thì kết quả trước mắt hay những kết quả tạm thời có thể không như ý ta muốn, vì Chúa thường thử thách niềm tin của con người, nhưng kết quả cuối cùng chắc chắn là tốt đẹp. Điều đó tốt hơn là kết quả trước mắt thì đẹp, nhưng kết quả sau cùng lại xấu. Thiên Chúa thường thử thách để trui luyện người công chính, Kinh thánh viết: «Người công chính gặp nhiều nỗi gian truân, nhưng Chúa giúp họ luôn thoát khỏi» (Tv 34,20).

2.       Chia sẻ kinh nghiệm cuộc đời

Tôi – người viết bài này – xin chia sẻ kinh nghiệm sau đây. Cuộc đời tôi có hai giai đoạn: giai đoạn sống theo ý muốn của mình, và giai đoạn từ bỏ mọi ý riêng để hoàn toàn sống theo ý của Thiên Chúa. Chỉ trong giai đoạn sau tôi mới sống bình an, hạnh phúc và mạnh mẽ.

a) Giai đoạn sống theo ý muốn của mình:

Trong giai đoạn này, tôi lấy «cái tôi» của mình là trung tâm (égocentrique) và coi những gì liên quan đến «cái tôi» ấy là quan trọng (trong đó có ý kiến của tôi, quan điểm của tôi, ý muốn của tôi…). Vì thế, tôi luôn tìm cách đề cao «cái tôi» của mình, điều này thường đồng nghĩa với việc tìm cách hạ «cái tôi» của người khác xuống. Khi thấy người khác được ca tụng, nổi bật, còn mình bị chìm lỉm giữa đám đông, tôi thường cảm thấy buồn bã, đau khổ, thậm chí bị xúc phạm. Trong tôi hình thành nhiều tham vọng về tâm linh cũng như về xã hội.

Về tâm linh, tôi quyết tâm trở nên một vị thánh lớn như Têrêxa hay Phanxicô Xavie. Tôi muốn mọi người phải khâm phục tôi là thánh thiện, đạo cao đức cả. Về xã hội, tôi quyết trở nên một nhân vật nổi bật: trong Giáo Hội thì phải là một chức sắc cao, ngoài xã hội thì phải là bậc vị vọng. Và tôi quyết tâm tu đức, học hành, cố gắng tập luyện hầu đạt được những tham vọng đó. Tôi trở thành một con người duy ý chí: tôi nghĩ cứ quyết tâm là được vì «vouloir, c’est pouvoir» mà! và coi mọi ý muốn của mình là quan trọng. Từ đó tôi có tính áp đặt ý muốn của mình trên người khác, muốn mọi người phải theo ý của mình. Nếu ý mình không được thực hiện, tôi cảm thấy bị xúc phạm và đau khổ rất nhiều.

Sống với ý hướng như vậy hàng chục năm, tôi cảm thấy tâm hồn mình không bình an, không hạnh phúc. Về tâm linh, tôi luôn phải đối diện và bất mãn vì những yếu đuối của mình. Tôi quyết tâm cao độ rất nhiều điều tốt đẹp, nhưng cuối cùng xét lại chẳng thực hiện được bao nhiêu, nên thường buồn bã. Về xã hội, so sánh với nhiều người, tôi thấy mình vẫn bị thua kém, khiến tôi luôn luôn bị dằn vặt, đau khổ. Nỗ lực liên tục trong đau khổ như thế, một thời gian sau tôi bị bệnh: bắt đầu là bệnh dạ dày, sau đến bệnh ho lao, cơ thể tôi suy yếu, và tôi đâm ra chán chường thất vọng… Nhưng về sau tôi đã trở nên hạnh phúc và khỏe mạnh nhờ thay đổi cách suy nghĩ và cách sống.

b) Giai đoạn sống theo ý muốn của Thiên Chúa:

Trong thời gian sống khắc khoải như thế, tôi đã dành một thời gian rất dài để nghiên cứu, tìm hiểu các tôn giáo khác. Tôi nhận ra tôn giáo nào cũng đòi hỏi con người phải coi nhẹ «cái tôi» của mình và cả những gì liên quan đến «cái tôi» ấy, đồng thời đặt nặng việc sống theo ý Chúa, theo những đòi hỏi của «Đạo», của tình yêu, của lương tâm, của lẽ phải, của sự khôn ngoan, hợp lý, của luật lệ tôn giáo… Tôi suy nghĩ nhiều về lời của Đức Giêsu: «Ai muốn theo Thầy, phải từ bỏ chính mình» (Mt 16,24), và «Không phải bất cứ ai thưa với Thầy: “Lạy Chúa! lạy Chúa!” là được vào Nước Trời cả đâu! Nhưng chỉ ai thi hành ý muốn của Cha Thầy, là Ðấng ngự trên trời, mới được vào mà thôi» (Mt 7,21). Nhờ vậy, trong đời sống tâm linh Kitô hữu, tôi hiểu được sự cần thiết của tinh thần «tự xóa» (kenosis) và của lập trường hoàn toàn làm theo thánh ý Thiên Chúa. Chính Đức Giêsu đã nêu gương sáng ngời về hai điều ấy. Ngài đã tự xóa mình một cách hoàn toàn (x. Pl 2,6-8) và triệt để tuân theo thánh ý Chúa Cha trọn đời Ngài. Ngài nói: «Tôi không tìm cách làm theo ý riêng tôi, nhưng theo ý Đấng đã sai tôi» (Ga 5,30; x. 6,38; 4,34); «Lương thực của Thầy là thi hành ý muốn của Ðấng đã sai Thầy, và hoàn tất công trình của Người» (Ga 4,34).

Hiểu được như thế, tôi tập sống quên mình, không lấy mình hay ý muốn của mình làm trung tâm nữa, mà lấy Thiên Chúa làm trung tâm, đồng thời luôn cố gắng sống thuận theo thánh ý Ngài. Theo tôi, ý của Thiên Chúa được biểu lộ qua tiếng lương tâm, qua lời của Ngài trong Kinh Thánh, qua sự hợp tình hợp lý đòi hỏi, qua lề luật tôn giáo, qua các định luật hay lẽ tự nhiên trong vũ trụ, qua những dữ kiện khách quan xảy ra, qua thiên cơ hay những dấu chỉ thời đại. Tôi bắt đầu từ bỏ mọi tham vọng, mọi ý riêng: không còn mong muốn mình trở nên một nhân vật nào to tát nữa, mà sẵn sàng chấp nhận làm một người nhỏ bé, tầm thường nhất, và không còn coi ý muốn của mình là quan trọng nữa. Tôi nhận ra ngay cả ý muốn trở nên một vị thánh cao cả của tôi trước đây cũng chỉ là một thứ tâm lý muốn «phình to bản ngã», một hình thức của tính kiêu ngạo.

Rất nhiều sự việc xảy đến ngược lại sự khôn ngoan hay dự tính của tôi, mà tôi thấy trước mắt là bất lợi cho tôi. Nhưng khi tôi thấy rằng mình không thể thay đổi được, và nhận ra rằng ý của Thiên Chúa là muốn tôi vui vẻ chấp nhận, thì tôi sẵn sàng vâng theo. Tôi phó thác để mặc Ngài dẫn tôi đi đâu tùy ý Ngài. Thường là sau một thời gian, tôi nhận ra rằng điều mà trước đó tôi cho là bất lợi ấy cuối cùng lại trở nên hết sức ích lợi cho tôi. Dần dần tôi chứng nghiệm được rằng «Thiên Chúa làm cho mọi sự đều sinh lợi ích cho những ai yêu mến Người» (Rm 8,28). Kinh nghiệm cho tôi thấy: khi những bất lợi xảy đến, nếu cứ vui vẻ đón nhận theo ý Thiên Chúa và kiên nhẫn chờ đợi, thì tất cả những bất lợi ấy cuối cùng đều trở nên lợi ích.

Ngay cả những yếu đuối, sa ngã, và những hành động ngu xuẩn của tôi trước đây, cũng trở thành có lợi cho tôi, khiến tôi trở nên ý thức hơn về tính yếu đuối và dễ sai lầm của mình, để nhờ đó tôi trở nên khiêm nhượng hơn, bớt tự tin hơn để tin vào quyền năng của Chúa nhiều hơn. Qua dụ ngôn hai người vào đền thờ cầu nguyện (x. Lc 18,9-14), tôi nhận ra rằng người ít phạm tội, người giữ luật đạo rất tốt, nhưng lại kiêu ngạo, hay chê bai người khác, thì không công chính trước mặt Thiên Chúa cho bằng người tội lỗi biết ăn năn hối cải và thật lòng khiêm nhường nhìn nhận mình có tội, đồng thời biết cảm thông với những hạn chế của tha nhân.

Sống «vô ngã» và sống không có ý riêng như vậy, tôi cảm thấy mình thanh thản hơn xưa rất nhiều. Thay vì sợ đau khổ thì sẵn sàng chấp nhận mọi khổ đau đến với mình; thay vì lấy hạnh phúc của mình làm mục đích phải đạt tới thì lấy thánh ý Thiên Chúa và hạnh phúc của người khác làm đối tượng tìm kiếm và thực hiện. Sống như vậy, tôi cảm thấy tâm hồn bình an và không còn nhạy bén với đau khổ như xưa. Dường như càng sợ và tránh đau khổ thì ta càng nhạy bén với đau khổ và càng vướng vào đau khổ. Còn càng chấp nhận đau khổ – bất cứ loại đau khổ nào – để thực hiện thánh ý Thiên Chúa và hạnh phúc của tha nhân thì đau khổ càng ít ảnh hưởng được tới mình. Hiện nay tôi thấy mình hạnh phúc và thành công hơn xưa rất nhiều. Sức khỏe tôi cũng được cải thiện, và tôi cảm thấy tràn đầy sức sống, cả tinh thần lẫn thể chất. Một điều khá lạ lùng là những tham vọng mà tôi đã dẹp bỏ, mà giờ đây tôi không thèm quan tâm thực hiện nữa thì lại đang thành tựu tốt đẹp theo kiểu «bất chiến tự nhiên thành», hay không muốn mà được! Vì thế, tôi cho rằng sống theo ý Chúa thì khôn ngoan và thành công hơn là sống theo ý mình.

CẦU NGUYỆN

Lạy Cha, nhiều khi đứa con nhỏ của con cứ nhất quyết làm theo ý của nó, cách thức của nó vì nó cho rằng phải làm như thế thì mới khôn ngoan và thành công. Trong khi đó, con lại nhìn thấy nếu nó cứ làm theo ý nó hay cách của nó thì chắc chắn sẽ thất bại. Nhưng nó không nghe con và cuối cùng nó đã thất bại. Từ sự việc đó, con nhận ra chính con cũng hành động ngu xuẩn như nó khi con cứ khăng khăng làm theo ý của con chứ không theo ý của Cha. Và con đã thất bại ê chề trong cuộc sống. Con đã sống trong đau khổ bao năm vì cứ cố chấp sống theo ý của con. Nay con đã nhận ra rằng sống theo ý của Cha là cách đơn giản nhất, dễ dàng nhất và khôn ngoan nhất để thành công và hạnh phúc trong cuộc đời. Xin cho con giữ được sự khôn ngoan này suốt cuộc đời con. Amen.

(Nguyễn Chính Kết)

Thứ Sáu, 29 tháng 1, 2016

TN-04-C



Chúa Nhật thứ 4 Thường Niên
 (Năm C − ngày 31-1-2016)


ĐỌC LỜI CHÚA

·   Gr 1,4-5.17-19: (17) Còn ngươi, ngươi hãy thắt lưng. Hãy chỗi dậy! Hãy nói với chúng tất cả những gì Ta sẽ truyền cho ngươi. Trước mặt chúng, ngươi đừng run sợ; nếu không, trước mặt chúng, chính Ta sẽ làm cho ngươi run sợ luôn.

·   1 Cr 12,31–13,13: (31) Trong các ân huệ của Thiên Chúa, anh em cứ tha thiết tìm những ơn cao trọng nhất. Nhưng đây tôi xin chỉ cho anh em con đường trổi vượt hơn cả. (13) Hiện nay đức tin, đức cậy, đức mến, cả ba đều tồn tại, nhưng cao trọng hơn cả là đức mến.


·   TIN MỪNG: Lc 4,21-30

Người ngôn sứ bị từ chối tại chính quê hương mình

(21) Người bắt đầu nói với họ: «Hôm nay đã ứng nghiệm lời Kinh Thánh quý vị vừa nghe». (22) Mọi người đều tán thành và thán phục những lời hay ý đẹp thốt ra từ miệng Người.

Họ bảo nhau: «Ông này không phải là con ông Giuse đó sao?» (23) Người nói với họ: «Hẳn là các ông muốn nói với tôi câu tục ngữ: Thầy lang ơi, hãy chữa lấy mình! Tất cả những gì chúng tôi nghe nói ông đã làm tại Caphácnaum, ông cũng hãy làm tại đây, tại quê ông xem nào!» (24) Người nói tiếp: «Tôi bảo thật các ông: không một ngôn sứ nào được chấp nhận tại quê hương mình.

 (25) «Thật vậy, tôi nói cho các ông hay: vào thời ông Êlia, khi trời hạn hán suốt ba năm sáu tháng, cả nước phải đói kém dữ dội, thiếu gì bà goá ở trong nước Ítraen; (26) thế mà ông không được sai đến giúp một bà nào cả, nhưng chỉ được sai đến giúp bà goá thành Xarépta miền Xiđôn. (27) Cũng vậy, vào thời ngôn sứ Êlisa, thiếu gì người phong hủi ở trong nước Ítraen, nhưng không người nào được sạch, mà chỉ có ông Naaman, người xứ Xyri thôi».

(28) Nghe vậy, mọi người trong hội đường đầy phẫn nộ. (29) Họ đứng dậy, lôi Người ra khỏi thành, thành này được xây trên núi. Họ kéo Người lên tận đỉnh núi, để xô Người xuống vực. (30) Nhưng Người băng qua giữa họ mà đi.


CHIA SẺ

Câu hỏi gợi ý:

1. Tại sao Đức Giêsu lại bị từ chối tại chính làng của mình? tại chính đất nước Do Thái? còn dân ngoại thì lại đón nhận Ngài để cuối cùng trở nên Dân Ngài? Liệu lịch sử có thể tái diễn tương tự như thế đối với Kitô giáo không?

2. Đức Giêsu có muốn dành ưu tiên cho quê hương hay dân tộc mình không? Ngài có thành công trong việc dành ưu tiên ấy cho quê hương hay dân tộc mình không? Tại sao? 

3.     Điều đã xảy ra với Do Thái có thể xảy ra tương tự với Kitô giáo không? Chúng ta phải làm gì để tránh vết xe đã đổ?


Suy tư gợi ý:

1. Các ngôn sứ thường bị từ chối tại chính quê hương mình

Đoạn Tin Mừng hôm nay (Lc 4,21-30) và một vài đoạn khác (Mt 13,53-58; Ga 1,11; 7,4b-5) cho thấy: những người cùng quê cùng làng với Đức Giêsu có vẻ coi thường Ngài và không tin ở Ngài cho lắm. Vì đối với họ, Đức Giêsu chỉ là con của một bác thợ mộc nghèo hèn, và của một phụ nữ không danh giá gì trong làng. Nếu chúng ta ở vào địa vị của dân chúng làng Nadarét, chưa chắc chúng ta đã suy nghĩ và đánh giá về Ngài khác hơn họ. Và nếu có một ngôn sứ nào xuất hiện ở thời đại này, tại thành phố hay tỉnh ta đang sống, chưa chắc ta đã nhận ra và đánh giá vị ấy một cách đúng đắn.

Thông thường, người ta thường đánh giá một người tùy theo những gì thấy được ở bên ngoài, chứ không thấy được giá trị thâm sâu ở bên trong. Và càng là người thân quen với vị ngôn sứ, thì càng khó đánh giá đúng đắn vị ngôn sứ ấy, vì các ngôn sứ thường mặc lấy những dáng vẻ bên ngoài rất bình thường, và cũng thường có quan niệm rất khác với người đương thời. Người ta cũng gọi các vị ngôn sứ là «tiên tri», nghĩa là “biết trước”, nói khác đi, các ngôn sứ thường có tư tưởng đi trước thời đại, người thời đại không hiểu nổi nên thường cho họ là sai lạc và kết án họ. Chính vì thế, các ngôn sứ ít được người đồng thời và đồng hương biết được giá trị con người mình, thậm chí còn bị coi thường, khi rẻ, kết án. Vì thế, Đức Giêsu nói: «Tôi bảo thật các ông: không một ngôn sứ nào được chấp nhận tại quê hương mình» (Lc 4,24).

2.  Các ngôn sứ có muốn ưu đãi quê hương mình cũng không được

Vì thường bị người đồng thời, đồng hương hay đồng đạo coi thường và không tin, nên các ngôn sứ thường không thể hoạt động hữu hiệu hay có kết quả tốt đẹp tại quê hương hay thời đại mình. Chẳng hạn Đức Giêsu không thể làm được nhiều phép lạ tại Nadarét, vì họ cứng lòng tin (x. Mt 13,58); đồng bào và đồng đạo của Ngài chẳng những không tin Ngài mà còn tìm cách giết Ngài nữa. Thái độ của những người đồng hương, đồng đạo hoặc đồng thời với Ngài như thế, khiến họ không được lợi lộc gì vì được làm người đồng hương, đồng đạo hay đồng thời với vị ngôn sứ cả.

Đức Giêsu đã kể ra những trường hợp cụ thể minh chứng điều ấy, chẳng hạn trường hợp của hai ngôn sứ Êlia và Êlisa. Thời Êlia, khi Israel bị đói, ông chẳng giúp một bà góa khốn khổ nào trong nước cả, mà lại giúp một bà góa ở tận đâu đâu, vì bà này tỏ ra yêu quí, tin tưởng và trọng vọng ông một cách đặc biệt. Thời Êlisa, biết bao người Israel bị phong hủi thì ông chẳng chữa cho ai, mà lại chữa cho một người từ ngoại quốc đến.

3.  Thực tế ấy đã xảy ra trên nhiều bình diện khác nhau

Do tình cảm tự nhiên, ngôn sứ nào cũng đều muốn dành ưu tiên quyền lợi cho quê hương mình, nhưng nhiều khi vì thái độ khinh thường và cố chấp của người đồng hương, nên quê hương của các ngôn sứ không hưởng được cái quyền ưu tiên mà các vị muốn đặc biệt dành cho. Để rồi cuối cùng sự ưu đãi đó lại được dành cho những người hay dân tộc xa lạ ở đâu đâu nhưng lại xứng đáng với sự ưu đãi đó hơn.

Thật vậy, Đức Giêsu luôn luôn muốn dành ơn cứu độ ưu tiên cho người Do Thái (x. Ga 4,22; Mt 10,6; 15,24). Nhưng Người Do Thái lại từ chối sự ưu tiên đó, nên ơn cứu độ mới được đem đến cho các dân tộc khác. Nhiều dụ ngôn của Đức Giêsu nói lên thực trạng đó: chẳng hạn dụ ngôn những tá điền sát nhân (x. Mt 21,33-46; Mc 12,1-12; Lc 20,9-19), dụ ngôn tiệc cưới (x. Mt 22,1-14; Lc 14,15-24). Và Thánh Phaolô trong thư Rôma (Rm 2,12-29) đã phần nào giải thích lý do tại sao người Do Thái lại không hưởng được sự ưu đãi ấy: «Dân ngoại là những người không có Luật Môsê; nhưng mỗi khi họ theo lẽ tự nhiên mà làm những gì Luật dạy, thì họ là Luật cho chính mình, mặc dầu họ không có Luật Môsê» (2,14), «Còn bạn, bạn mang tên là người Dothái, lại ỷ rằng mình có Lề Luật, và tự hào vì có Thiên Chúa ; bạn được biết ý Người, được Lề Luật dạy cho điều hay lẽ phải… Bạn tự hào vì có Lề Luật, mà bạn lại vi phạm Lề Luật, và như vậy bạn làm nhục Thiên Chúa!» (2,17.18.23), «Còn phép cắt bì, đã hẳn là có ích, nếu bạn thi hành Lề Luật. Nhưng nếu bạn vi phạm Lề Luật, thì bạn có được cắt bì cũng kể như không cắt bì. Trái lại, nếu người không được cắt bì mà giữ những điều Luật dạy, thì tuy họ không được cắt bì, Thiên Chúa chẳng coi họ như đã được cắt bì sao?» (2,25-26)

Bài Tin Mừng lễ Hiển Linh (Mt 2,1-12) cho thấy các kinh sư Do Thái – đại diện cho dân tộc được Thiên Chúa ưu tiên dành cho mọi quyền lợi thiêng liêng – mặc dù có Kinh Thánh trong tay và biết được chính xác Đức Giêsu sinh ra ở đâu, nhưng họ lại không thèm tìm đến Ngài, mà lại còn muốn làm hại Ngài. Còn các đạo sĩ – đại diện cho dân ngoại, dân không được ưu tiên – từ mãi đâu đâu tới và phải nhờ tới các kinh sư Do Thái mới biết được Đức Giêsu sinh ra tại Bêlem, thì lại quyết tâm tìm kiếm Ngài và họ đã tìm thấy.

Sự việc ấy là hình bóng của thực tế xảy ra sau đó: Mặc dù Đức Giêsu sinh ra tại Do Thái, và dân Do Thái là dân được ưu tiên hưởng ơn cứu độ, thì thực tế là cho tới nay, dân Do Thái vẫn chưa nhìn nhận Đức Giêsu là Đấng Cứu Tinh Nhân Loại, mà vẫn còn tiếp tục chờ đợi. Còn những dân tộc đang tin vào Đức Giêsu hiện nay thì lại là những dân tộc bị dân Do Thái xưa khinh thị và gọi là dân ngoại. Thế là ứng nghiệm điều Đức Giêsu tiên báo trong hai dụ ngôn vừa nêu trên.

4.  Nói người lại nghĩ đến ta

Lịch sử thường hay tái diễn lại theo kiểu tương tự. Điều đó khiến ta phải suy nghĩ vì nó có thể xảy ra cho chính chúng ta. Hiện nay, Kitô giáo luôn tự hào mình là tôn giáo do chính Thiên Chúa thiết lập, được chính Thiên Chúa mặc khải những chân lý thâm diệu nhất, và là con đường chính thống nhất dẫn đến ơn cứu độ. Kitô giáo với các tôn giáo khác cũng phần nào tương tự như Do Thái giáo với dân ngoại xưa. Liệu điều đã đúng với Do Thái giáo có đúng một cách tương tự với Kitô giáo không?

Dân Do Thái xưa lúc nào cũng tự hào về tôn giáo của mình là tôn giáo duy nhất đúng đắn vì là tôn giáo duy nhất được Thiên Chúa mặc khải. Còn các dân tộc khác thì thờ thần tượng, đi trong sai lạc. Nhưng kết cục ra sao? Dân Do Thái không chỉ phủ nhận Đức Giêsu mà còn giết Ngài nữa. Họ từ chối ơn cứu độ, và ơn cứu độ đã được trao cho dân ngoại. Dân ngoại lại đón nhận ơn cứu độ và gia nhập Giáo Hội. Thế thì xét cho cùng, đối với dân Do Thái, việc có tôn giáo duy nhất đúng đắn, việc nắm được nhiều chân lý hơn các dân tộc khác có ích lợi gì?

Như thế, xem ra điều quan trọng không phải là có tôn giáo chân chính cho bằng sống đúng những gì tôn giáo mình đòi hỏi, sống đúng theo lương tâm của mình. Hãy nghe thánh Phaolô nói: «Người ta được Thiên Chúa coi là công chính, không phải vì nghe biết Lề Luật, nhưng là vì tuân giữ Lề Luật» (Rm 2,13). Vì thế, nếu «bạn tự hào vì có Lề Luật, mà bạn lại vi phạm Lề Luật, thì như vậy bạn làm nhục Thiên Chúa!» (Rm 2,23). Tương tự, nếu chúng ta có tôn giáo chân chính mà lại không thèm sống đúng theo tôn giáo ấy, thì ta cũng làm nhục Thiên Chúa, Đấng thiết lập tôn giáo ấy. Lúc ấy chúng ta rất xứng đáng với lời kết án của thánh Phaolô: «Thật đúng như lời chép: Chính vì các người mà danh Thiên Chúa bị phỉ báng giữa chư dân» (Rm 2,24). Lúc ấy, tôn giáo chân chính có ích lợi gì cho ta, hay đó chính là lý do để Thiên Chúa kết án chúng ta?

Bài Tin Mừng hôm nay chính là lời cảnh tỉnh chúng ta: Đừng để tinh thần bác ái, yêu thương của Kitô giáo lại bị chính các Kitô hữu như chúng ta coi thường, không thèm sống, mà người sống tinh thần ấy lại là những người thuộc các tôn giáo khác. Vậy tốt nhất, chúng ta hãy đem tinh thần yêu thương của Đức Giêsu ra áp dụng thật sự vào đời sống. Đừng để trường hợp của Do Thái giáo lại tái diễn một cách tương tự với Kitô giáo, trong đó người chủ động tái diễn trường hợp ấy lại chính là chúng ta!


CẦU NGUYỆN

Lạy Cha, trong bài Tin Mừng hôm nay, Đức Giêsu đã gián tiếp cảnh giác chúng con: chính quê hương, đất nước, dân tộc và đồng đạo của Ngài – là những người mà Ngài muốn dành ưu tiên hưởng ơn cứu độ Ngài đem lại – lại từ chối Ngài. Hiện nay, rất có thể chúng con đang đi vào vết xe đã đổ ấy: ngoài miệng chúng con luôn tuyên xưng mạnh mẽ niềm tin vào Đức Giêsu, nhưng đời sống của chúng con thì lại đi ngược lại những điều Ngài dạy. Chúng con tuyên xưng hay biểu lộ đức tin mạnh mẽ ra ngoài để che lấp thực tế phủ nhận đức tin ấy ở bên trong. Xin giúp chúng con ý thức rằng thái độ giả hình ấy vô cùng có hại cho chúng con. Xin Cha cứu chữa chúng con khỏi thái độ ấy.