Chủ Nhật, 20 tháng 12, 2015

Vong-04-C



Chúa Nhật thứ 4 Mùa Vọng
(Năm C − ngày 20-12-2015)


ĐỌC LỜI CHÚA

·    Mk 5, 1-4a: Phần ngươi, hỡi Bêlem Épphrata, ngươi nhỏ bé nhất trong các thị tộc Giuđa, từ nơi ngươi, Ta sẽ cho xuất hiện một vị có sứ mạng thống lãnh Ítrael. Nguồn gốc của Người có từ thời trước, từ thuở xa xưa (…) Quyền lực Người sẽ trải rộng ra đến tận cùng cõi đất.

·    Dt 10, 5-10: Đức Kitô nói: Hy lễ và hiến tế, lễ toàn thiêu và lễ xá tội, Chúa đã chẳng ưa, chẳng thích, Vì đó chỉ là những thứ của lễ được dâng tiến theo Lề Luật truyền. Rồi Người nói: Này con đây, con đến để thực thi ý Ngài. Thế là Người bãi bỏ các lễ tế cũ mà thiết lập lễ tế mới.



·    TIN MỪNG: Lc 1, 39-45

Đức Maria viếng thăm bà Êlisabét

Hồi ấy, Maria vội vã lên đường, đến miền núi, vào một thành thuộc chi tộc Giuđa. Cô vào nhà ông Dacaria và chào hỏi bà Êlisabét. Bà Êlisabét vừa nghe tiếng Maria chào thì đứa con trong bụng nhảy lên, và bà được đầy tràn Thánh Thần, liền kêu lớn tiếng: «Em được chúc phúc hơn mọi người phụ nữ, và người con em đang cưu mang cũng được chúc phúc. Bởi đâu tôi được thân mẫu Chúa tôi đến với tôi thế này? Vì này đây tai tôi vừa nghe tiếng em chào, thì đứa con trong bụng đã nhảy lên vui sướng. Em thật có phúc, vì đã tin rằng Chúa sẽ thực hiện những gì Người đã nói với em».

CHIA SẺ

Câu hỏi gợi ý:

1. Ta học được những gì trong việc Đức Maria thăm viếng bà Êlisabét? Thăm viếng có phải là một việc mà tình yêu đòi buộc phải có không?

2. Thăm viếng cũng là dịp đem Chúa đến cho người khác. Nhưng đem Chúa đến cho người mình thăm viếng bằng cách nào?

3.  Giữa những hành động cụ thể biểu lộ yêu thương đích thực, và những lễ tế, kinh kệ làm theo thói quen, theo luật buộc, Thiên Chúa ưa chuộng cái nào?

Suy tư gợi ý:

1.    Viếng thăm là một hành động biểu lộ tình thương

Vừa nghe sứ thần truyền tin cho biết bà Êlisabét có thai được sáu tháng, Maria liền vội vã lên đường đến thăm bà. Bà Êlisabét sống ở miền núi, chắc chắn cuộc hành trình của Maria lên miền núi để thăm người bà con không tránh được mệt nhọc, vất vả. Chắc chắn việc Đức Maria đến thăm bà Êlisabét là do sự thúc đẩy của yêu thương. Nếu Ngài không đến thăm thì bà Êlisabét chẳng trách Ngài được, lý do là bà ấy đâu biết rằng Ngài biết bà ấy mang thai. Vả lại chính Ngài cũng đang mang thai, mà đường xá lại xa xôi. Chính tình thương đã thúc đẩy Ngài đi, vì Ngài rất giàu tình thương. Và cũng chính vì giàu tình thương mà Ngài xứng đáng làm Mẹ của Đức Giêsu, là hiện thân của tình yêu Thiên Chúa.

Tình yêu đòi hỏi phải biểu lộ ra, chứ không giữ kín bên trong. Một tình yêu giữ kín, không được biểu lộ thành hành động, không phải là một tình yêu đích thực. Tương tự như lời thánh Giacôbê: «Đức tin không có việc làm là đức tin chết» (Gc 2, 26). Cũng vậy, tình yêu không việc làm, không được biểu lộ là tình yêu chết. Tình yêu phải được biểu lộ ra thành sự quan tâm, chăm sóc, năng tìm cách gặp gỡ, giúp đỡ, hy sinh cho người thân, làm cho người thân trở nên tốt đẹp, hạnh phúc hơn. Câu tục ngữ «Yêu nhau tam tứ núi cũng trèo, thất bát sông cũng lội, cửu thập đèo cũng qua» có nghĩa như thế!

Tình yêu đích thực đòi hỏi phải năng gặp nhau, nhất là những lúc người mình yêu có chuyện vui hoặc buồn. Đức Phật nói: «Yêu nhau mà không được ở gần nhau, mà phải xa cách nhau thì sẽ đau khổ», ngài gọi cái khổ ấy là «ái biệt ly khổ». Tục ngữ có câu: «Nhất nhật bất kiến như tam thu hề!» (một ngày không gặp nhau thì dài như ba năm). Do đó, đi thăm viếng nhau là đòi hỏi của tình yêu đích thực, là biểu lộ sự quan tâm đến nhau. Vì thế, chúng ta hãy năng thăm viếng những người chúng ta yêu mến. Mà đã là người Kitô hữu, tất nhiên chúng ta có rất nhiều người mình phải yêu mến, nhất là những người lâm cảnh đau khổ, túng thiếu, những người lâm vào thế kẹt, những người cần chúng ta tới thăm viếng hơn cả. Đến thăm nhau là một cách tuyệt vời để biểu lộ tình huynh đệ, tình yêu thương của Kitô giáo.

2.    Đến thăm để đem Chúa đến cho người mình thương

Khi Đức Maria đến thăm bà Êlisabét, Ngài cũng đem Chúa đến cho bà ấy. Nhờ Đức Maria mang Chúa đến, nên không chỉ bà Êlisabét vui mừng, mà hài nhi trong bụng bà cũng vui theo mà «nhảy lên» trong bụng mẹ. Và chắc chắn cũng chính vì Đức Maria mang Chúa đến, mà niềm vui của bà Êlisabét và hài nhi mới tăng lên một cách lạ thường như thế. Sự hiện diện của Đức Maria cùng với bào thai Giêsu chẳng những mang niềm vui, mà còn biến đổi hai mẹ con bà Êlisabét, khiến hai người được tràn đầy Thánh Thần, và nhờ đó nhận ra được sự hiện diện của Thiên Chúa nơi Đức Maria, đồng thời tin vào Thiên Chúa vững mạnh hơn.

Như thế, đến thăm không chỉ là một phương cách biểu lộ tình yêu, nói lên sự quan tâm, mà còn là một dịp thuận lợi để đem Chúa đến cho người mình thăm viếng. Nhờ ta đem Chúa đến, mà niềm vui của người được thăm tăng lên gấp bội, và họ nhận lãnh được Thánh Thần nhờ sự hiện diện của Chúa do ta mang đến. Chính Thánh Thần của Chúa trong ta, chứ không phải ta, sẽ thánh hóa, biến đổi họ nên tốt lành, thánh thiện.

Đem Chúa đến cho người mình thăm viếng, không có nghĩa là mình nói thật nhiều thật hay về Chúa cho họ nghe. Có những người nói về Chúa rất nhiều và rất hay, nhưng họ không thật sự có Chúa trong bản thân họ. Chúa là tình thương, ta chỉ mang Chúa đến cho tha nhân, khi chính ta thật sự yêu thương họ bằng một tình yêu chân thực. Đức Maria có nói gì về Chúa với bà Êlisabét đâu! Do đó, ta chỉ có thể mang Chúa đến cho tha nhân khi ta đến họ với ý muốn làm hiện thân của Chúa đối với họ, và coi họ cũng là hiện thân của Chúa đối với mình.

3.    Hãy là hiện thân của Chúa khi đi thăm viếng

Thiên Chúa vì yêu thương nhân loại vô cùng, nên Ngài đã đến với con người trong lịch sử, cách đây 2000 năm, để cứu độ và đem hạnh phúc đến cho mọi người, cho từng người. Có thể nói việc xuống thế làm người của Đức Giêsu chính là cuộc thăm viếng của Thiên Chúa đến với nhân loại. Trong cuộc thăm viếng này, Đức Giêsu đã đem Thiên Chúa, là chính Tình Yêu, đến với nhân loại.

Khi còn tại thế, Ngài đã đến thăm nhiều người, săn sóc nhiều người, cải hóa nhiều người, biểu lộ tình yêu thương cho nhiều người. Nhưng vì nhập thể làm người, Ngài bị giới hạn trong không gian và thời gian, Ngài chỉ sống tại thế có 33 năm, chỉ quanh quẩn trong đất nước Do Thái, và chỉ có thể tiếp xúc được với một số rất ít người. Do tình yêu vô biên phổ quát của Ngài, Ngài muốn tiếp xúc với tất cả mọi người trên trần gian, để phục vụ, săn sóc họ, từng người một. Nhưng hiện nay Ngài không thể làm điều đó bằng chính thân xác của Ngài. Vì thế, Ngài muốn nhờ chính chúng ta làm điều ấy. Ngài muốn trở thành chính bản thân chúng ta để làm những công việc ấy, và chúng ta có thể giúp Ngài được toại nguyện ý đó.

Ngài muốn dùng chính bản thân chúng ta để thăm viếng những người chúng ta quen biết, yêu thương. Ngài muốn an ủi, vỗ về, khuyến khích, khuyên lơn, cảnh tỉnh họ bằng miệng lưỡi của ta. Ngài muốn săn sóc, làm việc phục vụ họ bằng chính bàn tay của ta. Ngài muốn yêu thương họ bằng chính trái tim của ta. Ngài muốn quan tâm tới họ bằng chính tâm trí của ta. Qua ta, Ngài muốn biểu lộ tình thương vô biên của Ngài cho họ. Muốn thế, Ngài mong muốn ta trở thành hiện thân của yêu thương, thứ yêu thương bằng hành động chứ không phải chỉ bằng lời nói. Ta có là hiện thân của tình thương, thì ta mới trở nên hiện thân của Ngài. Và chính lúc ấy, ý muốn của Ngài là yêu thương phục vụ họ mới được thỏa mãn hoàn toàn.

Vấn đề là ta có muốn trở nên hiện thân của Ngài hay không. Ngài không bao giờ muốn ép buộc ta, thúc bách ta, nhưng luôn luôn mời gọi ta. Ta có nghe thấy tiếng Ngài mời gọi không? Nếu có, hãy đáp lại lời mời ấy một cách quảng đại. Đó là cách chứng tỏ cụ thể nhất rằng ta yêu mến Ngài. Yêu mến Ngài thì phải yêu thương giống như Ngài, chứ không phải yêu Ngài bằng cách dâng lên Ngài thật nhiều thánh lễ, đọc thật nhiều kinh kệ, và quỳ hàng giờ trước nhà tạm. Nếu ta yêu Ngài thật sự, thì hãy yêu Ngài, phục vụ Ngài trong những người anh chị em gần gũi ta. Khi ta đến với họ, Ngài cũng muốn ta coi họ như hiện thân của Ngài, nghĩa là như chính bản thân Ngài.Ngài đã chẳng từng nói: «Không phải bất cứ ai thưa với Thầy: “Lạy Chúa! Lạy Chúa!” là được vào Nước Trời cả đâu! Nhưng chỉ những ai thi hành ý muốn của Cha Thầy là Đấng ngự trên trời mới được vào mà thôi!» (Mt 7,21). Mà ý muốn của Thiên Chúa là: «Thầy ban cho anh em một điều răn mới, là anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em» (Ga 13,34). Thiên Chúa đã dùng miệng ngôn sứ Isaia để nói lên sự chán ngấy của Ngài về việc giữ đạo theo kiểu dâng thật nhiều lễ tế, đọc kinh kệ thật nhiều nhưng thiếu tình yêu thương tha nhân: «Ngần ấy hy lễ của các ngươi, đối với Ta nào nghĩa lý gì? Lễ toàn thiêu chiên cừu, mỡ bò mập, Ta đã ngấy (…) Thôi đừng đem những lễ vật vô ích ấy đến nữa. Ta ghê tởm khói hương, ta chịu không nổi những ngày đầu tháng, những ngày sabát, ngày đại lễ, không chịu nổi những người cứ phạm tội ác rồi lại cứ lễ lạc linh đình (…) Khi các ngươi dang tay cầu nguyện, Ta bịt mắt không nhìn, vì tay các ngươi đầy những máu…» (Is 1,11-15).

Trong bài đọc 2, Thánh Phaolô cũng viết những ý tưởng tương tự: «Đức Kitô nói: Hy lễ và hiến tế, lễ toàn thiêu và lễ xá tội, Chúa đã chẳng ưa, chẳng thích, Vì đó chỉ là những thứ của lễ được dâng tiến theo Lề Luật truyền» (Dt 10,8). Qua lời thánh Phaolô, ta thấy tình yêu đích thực thì làm Chúa hài lòng hơn rất nhiều so với những lễ tế được cử hành chỉ vì muốn tuân thủ lề luật! Thật vậy, lễ tế hay việc làm dù tốt lành đến đâu nhưng không do tình yêu thúc đẩy thì chẳng có giá trị bao nhiêu trước mặt Thiên Chúa: «Giả như tôi có đem hết gia tài cơ nghiệp mà bố thí, hay nộp cả thân xác tôi để chịu thiêu đốt, mà không có đức mến, thì cũng chẳng ích gì cho tôi»  (1Cr 13,3).

CẦU NGUYỆN

Lạy Chúa, xin giúp con trở thành hiện thân của Chúa để giúp Chúa phục vụ mọi người qua chính bản thân của con. Xin cho con biết quan tâm đến niềm vui, nỗi khổ, và nhu cầu của từng người sống chung quanh con.  Xin giúp con biết hy sinh thì giờ cho dù rất quí báu của con để năng đến gặp gỡ họ, thăm viếng họ, hầu nhờ đó thông cảm được những nỗi vui buồn và nhu cầu của họ. Xin giúp con biết sẵn sàng chia vui sẻ buồn và tìm mọi cách để thỏa mãn những nhu cầu chính đáng của họ. Amen.        (Nguyễn Chính Kết)

Chủ Nhật, 13 tháng 12, 2015

Vong-03-C



Chúa Nhật thứ 3 Mùa Vọng
(Năm C − ngày 13-12-2015)


ĐỌC LỜI CHÚA

·   Xp 3,14-18a:  (17) Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi đang ngự giữa ngươi, Người là Vị cứu tinh, là Đấng anh hùng. Vì ngươi, Chúa sẽ vui mừng hoan hỷ, sẽ lấy tình thương của Người mà đổi mới ngươi.

·   Pl 4,4-7:  (4) Anh em hãy vui luôn trong niềm vui của Chúa. Tôi nhắc lại : vui lên anh em!   (5) Sao cho mọi người thấy anh em sống hiền hoà rộng rãi, Chúa đã gần đến.


·   TIN MỪNG: Lc 3,10-18

Sứ điệp của Gioan Tẩy Giả

Khi ấy, (10) đám đông hỏi Gioan Tẩy Giả rằng: «Chúng tôi phải làm gì đây?»  (11) Ông trả lời: «Ai có hai áo, thì chia cho người không có; ai có gì ăn, thì cũng làm như vậy». (12) Cũng có những người thu thuế đến chịu phép rửa. Họ hỏi ông: «Thưa thầy, chúng tôi phải làm gì?» (13) Ông bảo họ: «Đừng đòi hỏi gì quá mức đã ấn định cho các anh». (14) Binh lính cũng hỏi ông: «Còn anh em chúng tôi thì phải làm gì?» Ông bảo họ: «Chớ hà hiếp ai, cũng đừng tống tiền người ta, hãy an phận với số lương của mình».

(15) Hồi đó, dân đang trông ngóng, và trong thâm tâm, ai nấy đều tự hỏi: biết đâu ông Gioan lại chẳng là Đấng Mêsia! (16) Ông Gioan trả lời mọi người rằng: «Tôi, tôi làm phép rửa cho anh em trong nước, nhưng có Đấng mạnh thế hơn tôi đang đến, tôi không đáng cởi quai dép cho Người. Người sẽ làm phép rửa cho anh em trong Thánh Thần và lửa. (17) Tay Người cầm nia rê sạch lúa trong sân: thóc mẩy thì thu vào kho lẫm, còn thóc lép thì bỏ vào lửa không hề tắt mà đốt đi». (18) Ngoài ra, ông còn khuyên dân nhiều điều khác nữa, mà loan báo Tin Mừng cho họ.

CHIA SẺ

Câu hỏi gợi ý:

1. Để giúp mọi người sám hối, Gioan Tẩy giả khuyên mỗi loại người một lời khuyên khác nhau. Tại sao vậy? Ta có thể rút ra kết luận gì về điều ấy?

2. Công lý và tình thương có liên hệ gì với nhau? Tình thương không được xây dựng trên công lý có phải là đức ái Kitô giáo không? Tại sao?

3.  Sám hối để đón Chúa đến đòi hỏi phải có sự thay đổi: giữa thay đổi quan niệm và thay đổi thái độ hay hành động, cái nào quan trọng và nền tảng hơn? Cần phải thay đổi quan niệm nào và thay đổi thế nào?

Suy tư gợi ý:

1. Công lý và tình thương

Gioan Tẩy Giả kêu gọi sám hối để dọn đường cho Chúa đến. Khi có người muốn đi vào cụ thể của việc sám hối, Gioan đã tùy theo người hỏi ông là loại người nào mà đề ra hai loại việc làm cụ thể. Đối với những người trình độ tâm linh còn thấp, ông đề nghị những việc làm liên quan đến việc thực hiện công bằng hay công lý. Chẳng hạn với người thu thuế, ông nói: «Đừng đòi hỏi gì quá mức đã ấn định cho các anh» (Lc 3,13); với bính lính, ông nói: «Chớ hà hiếp ai, cũng đừng tống tiền người ta, hãy an phận với số lương của mình» (Lc 3,14). Đối với những người đã thực hiện được sự công bằng hay công lý trong đời sống, ông đưa họ lên một mức độ trọn lành cao hơn, đó là tình thương hay bác ái: «Ai có hai áo, thì chia cho người không có; ai có gì ăn, thì cũng làm như vậy» (Lc 3,11).

Công lý và tình thương hay công bằng và bác ái là hai tinh thần căn bản của Kitô giáo. Hai đức này phải đi đôi với nhau thì mới thật sự là tinh thần Kitô giáo. Nghĩa là công lý Kitô giáo phải là thứ công lý có tình thương, và tình thương Kitô giáo phải là tình thương được xây dựng trên nền tảng công lý. Nói theo ngôn ngữ thông thường là tình và lý phải luôn đi đôi với nhau: lý phải có tình, mà tình phải có lý.

2.  Tình thương phải có nền tảng là công lý,
công lý phải được xây dựng trên sự thật

Tuy nhiên, còn một điều hết sức căn bản nữa của tinh thần Kitô giáo, đó là tinh thần tôn trọng chân lý hay sự thật. Trong Tin Mừng Matthêu, Đức Giêsu cho biết: «Những điều quan trọng nhất trong Lề Luật là công lý, tình thương và sự thành thật» (Mt 23,23). Sự thành thật ở đây chính là tinh thần yêu chân lý, tôn trọng sự thật, nghĩa là: «Hễ “có” thì phải nói “có”, “không” thì phải nói “không”. Thêm thắt điều gì là do ác quỷ» (Mt 5,37). Do đó, đạo đức hay thánh thiện mà thiếu tôn trọng một trong ba điều này, là «công lý, tình thương và sự thành thật», thì chỉ là thánh thiện hay đạo đức một cách què quặt.

Tuy nhiên, trong ba điều này thì sự thành thật hay tinh thần tôn trọng sự thật là nền tảng cho cả hai điều kia. Thiếu tinh thần tôn trọng sự thật thì không thể có công lý và tình thương đích thực. Trong ba điều quan trọng ấy, tình thương là cao cả nhất (x. 1Cr 13,2.13) – vì tình thương chính là bản chất của Thiên Chúa (x.1Ga 4,8.16) – nhưng tình thương chỉ là tình thương đích thực khi nó được xây dựng trên nền tảng công bình hay công lý. Tình thương có nền tảng như thế mới có thể là đức ái Kitô giáo. Chính vì thế, đối với những người tội lỗi, ông Gioan chỉ đòi hỏi họ giữ được sự công bằng, là mức đạo đức tối thiểu cần có (vốn chưa phải là công bằng Kitô giáo), trước khi có được mức đạo đức cao hơn. Với người bình thường – giả thiết là đã thực hiện sự công bình – ông mới khuyên họ thể hiện tình yêu thương tích cực với đồng loại, đặc biệt với người nghèo khổ.

3.  Nghĩa vụ thực hiện công bằng xã hội

Người Kitô hữu đúng nghĩa là người theo Chúa không chỉ tôn trọng công lý, sống công bằng với mọi người, không đối xử bất công với ai, mà còn phải tích cực tạo sự công bằng xã hội và thực hiện bác ái xã hội nữa. Ngôn sứ Isaia viết: «Cách ăn chay mà Ta ưa thích chẳng phải là thế này sao: mở xiềng xích bạo tàn, tháo gông cùm trói buộc, trả tự do cho người bị áp bức, đập tan mọi gông cùm? Chẳng phải là chia cơm cho người đói, rước vào nhà những người nghèo không nơi trú ngụ; thấy ai mình trần thì cho áo che thân, không ngoảnh mặt làm ngơ trước người anh em cốt nhục!» (Is 58,6-7). Nước Trời, nơi mọi người Kitô hữu mong đợi sẽ đến, được thánh Giacôbê định nghĩa là «trời mới đất mới, là nơi công lý ngự trị» (Gc 3,13), nếu ta không yêu chuộng công lý, không tìm cách tạo lập công lý trong xã hội, làm sao ta có thể thích hợp với nơi ta mong đến ấy?

Học Thuyết Xã Hội Công Giáo đã được Hội nghị các Giám mục Hoa Kỳ khi họp tại Washington DC tháng 6-1998 tuyên bố là một phần thiết yếu của đức tin Công giáo. Một trong những điểm chính yếu của học thuyết này là kêu gọi các Kitô hữu không chỉ dấn thân vào các công việc bác ái mà còn phải dấn thân thực hiện công bằng xã hội. Sống trong một xã hội mà bất công lan tràn, nếu người Kitô hữu không hề quan tâm đến những bất công ấy và tìm cách cải thiện nó, thì rõ ràng là không sống đúng điều Chúa Kitô và Giáo Hội đòi hỏi.

4.  Sự phán xét của Thiên Chúa

Trong bài Tin Mừng, Gioan cho biết Đấng Mêsia đến sau ông có nhiệm vụ giáo dục, thánh hóa mọi người: «Người sẽ làm phép rửa cho anh em trong Thánh Thần và lửa» (Lc 3,16). Ngoài ra, Ngài còn có nhiệm vụ sàng sẩy, thanh lọc, tức phán xét và thưởng phạt mọi người nữa: «Tay Người cầm nia rê sạch lúa trong sân: thóc mẩy thì thu vào kho lẫm, còn thóc lép thì bỏ vào lửa không hề tắt mà đốt đi» (Lc 3,17).

Mục đích của công việc giáo dục, thánh hóa của Ngài chắc chắn là biến con người trở thành những con người hoàn hảo như Ngài đã nói: «Anh em hãy nên hoàn thiện, như Cha anh em trên trời là Đấng hoàn thiện» (Mt 5,48). Và con người hoàn thiện theo quan niệm của Ngài ắt phải là người thực hiện được «những điều quan trọng nhất trong Lề Luật là công lý, tình thương và sự thành thật» (Mt 23,23).

Nếu mục đích của việc giáo dục, thánh hóa của Ngài là như thế, ắt tiêu chuẩn để xét đoán, thưởng phạt của Ngài cũng phải dựa trên ba điều căn bản ấy. Thật vậy, Tin Mừng Matthêu cho ta tiêu chuẩn mà Ngài dùng để phán xét là chúng ta có đối xử với tha nhân của mình bằng tình yêu hay không (x. Mt 25,31-46). Tình yêu mà Đức Giêsu đòi hỏi là phải là thứ tình yêu được xây dựng trên nền tảng sự thật và công lý.

5. Sám hối một cách có nền tảng
là sửa đổi quan niệm cho đúng

Các bài Tin Mừng trong mùa Vọng đều ít nhiều nhấn mạnh đến tinh thần sám hối: Gioan «kêu gọi người ta chịu phép rửa tỏ lòng sám hối để được ơn tha tội» (Lc 3,3). Sám hối đòi hỏi một sự thay đổi cụ thể: «Mọi thung lũng, phải lấp cho đầy, mọi núi đồi, phải bạt cho thấp, khúc quanh co, phải uốn cho ngay, đường lồi lõm, phải san cho phẳng» (Lc 3,5). Điều quan trọng nhất mà chúng ta phải thay đổi chính là quan niệm về sự thánh thiện hay lòng đạo đức của chúng ta. Rất nhiều Kitô hữu quan niệm chưa đúng về điều này, nên dù rất khao khát và quyết tâm nên thánh, nhưng trong thực tế chỉ là đạo đức thánh thiện trước con mắt sai lầm của người đời, chứ không phải là thánh thiện đạo đức trước con mắt của Thiên Chúa.

Hồi nhỏ, tôi có quen biết một bà sống độc thân. Bà rất siêng năng đọc kinh, đi lễ, xưng tội, coi đó như là điều quan trọng nhất trong đời. Vì thế, nhiều người coi bà là một người rất đạo đức. Có điều là bà rất khó tính, con cháu dù lớn hay nhỏ đều cảm thấy không thích ở gần bà. Mặc dù con cháu ruột thịt của bà rất đông và nhiều đứa rất nghèo khổ, nhưng trước khi bà mất, bà dùng hết tiền của và tài sản bà có để xin lễ, không để lại cho đứa cháu nào lấy một đồng. Bà lo sợ sau khi chết, con cháu sẽ không có đứa nào xin lễ cho bà, nên bà phải tự lo lắng lấy chuyện ấy. Thấy vậy, tôi tự hỏi: không biết cả tài sản của bà mà đem xin lễ như thế có thật sự lợi ích cho phần rỗi linh hồn của bà không? Xét cho cùng thì bà chỉ là một người ích kỷ: bà chỉ nghĩ tới phần rỗi linh hồn, hạnh phúc đời sau của bà, chứ không hề yêu thương gì con cháu. Con cháu ruột thịt của bà mà bà không yêu thương thì bà còn yêu thương được ai? làm sao bà yêu thương được Đấng vô hình như Thiên Chúa? Bà hành động như thế chính vì bà có một quan niệm sai lầm về đạo đức và thánh thiện, mà đáng buồn thay không mấy ai có đủ thẩm quyền lại chịu giúp bà thay đổi quan niệm ấy!

6. Đạo đức hay thánh thiện phải được xây dựng
trên chân lý, công lý và tình thương

Hiện nay, chắc hẳn vẫn có khá nhiều Kitô hữu quan niệm đạo đức theo kiểu của bà cụ trong câu chuyện trên. Thiết tưởng chúng ta cần phải quan niệm cho đúng về sự đạo đức, thánh thiện thì mới trở nên đạo đức, thánh thiện đúng nghĩa được. Đạo đức hay thánh thiện phải được xây dựng trên nền tảng vững chắc là chân lý, công lý và tình thương, chứ không phải trên những lễ nghi hay những hình thức của tôn giáo. Làm sao ta có thể nên giống Đức Giêsu, Đấng «muốn lòng nhân chứ không phải hy lễ» (Hs 6,6; Mt 9,13), đang khi ta lại chủ trương coi hy lễ quan trọng hơn cả lòng nhân?

Thánh Gioan Kim Khẩu viết: «Anh em có muốn tôn kính thân thể Chúa Kitô không? Vậy thì đừng bỏ qua Ngài khi thấy Ngài trần truồng. Đừng tôn vinh Ngài với đủ thứ gấm vóc lụa là trong đền thờ, trong khi lại bỏ mặc Ngài đang run lạnh và trần truồng ngoài trời. Đấng đã từng nói “Đây là mình Thầy” cũng chính là Đấng đã nói “Các ngươi thấy ta đói mà không cho ăn”… Có ích gì khi bàn tiệc Thánh Thể thì chất nặng những chén lễ bằng vàng, trong khi Đức Kitô đang hấp hối vì đói khát? Hãy cho Ngài hết đói khát đã, rồi mới lấy những gì còn lại mà trang hoàng bàn thờ!» (Tông huấn Giáo Hội tại Châu Á trích dẫn, số 41§2). Chữ “Ngài” trong đoạn văn này là ai? − Chính Đức Giêsu đã giải thích: «Ta bảo thật các ngươi: mỗi lần các ngươi làm (hay không làm) như thế cho một trong những người bé nhỏ nhất đây, là các ngươi đã làm (hay không làm) cho chính Ta vậy» (Mt 25,40/45).

Để đón Chúa đến, thiết tưởng điều sám hối quan trọng nhất là chúng ta cần quan niệm cho đúng về sự thánh thiện. Đạo đức hay thánh thiện Kitô giáo phải được xây dựng trên «những điều quan trọng nhất trong Lề Luật là công lý, tình thương và sự thành thật» (Mt 23,23), tức «chân lý, công lý và tình thương», chứ không phải xây dựng trên những lễ nghi hay những hình thức đạo đức bề ngoài.

CẦU NGUYỆN

Lạy Cha, Đức Giêsu luôn coi trọng tình thương và cách xử sự giữa con người với nhau hơn cả những nghi thức tôn giáo (x. Mt 6,23-24; 9,13). Xin giúp con thay đổi quan niệm giống như Đức Giêsu để đón Ngài đến trong tâm hồn con như một vị Thầy, một gương mẫu thánh thiện cho cuộc đời của con. Thật là trớ trêu khi con muốn nhận Ngài là Thầy mà lại không muốn quan niệm mọi sự giống như Ngài. Xin giúp con có được những quan niệm giống như Đức Giêsu nhờ đọc và suy gẫm Lời Ngài trong Kinh thánh, để thấy được cách quan niệm, cách suy nghĩ và cách sống của Ngài mà bắt chước. Amen.

Thứ Bảy, 5 tháng 12, 2015

Vong-02-C

Chúa Nhật thứ 2 Mùa Vọng
(Năm C − ngày 06-12-2015)


ĐỌC LỜI CHÚA

·   Br 5,1-9: (7) Thiên Chúa đã ra lệnh phải bạt thấp núi cao và gò nổng có tự lâu đời, phải lấp đầy thung lũng cho mặt đất phẳng phiu, để Ítraen tiến bước an toàn dưới ánh vinh quang của Thiên Chúa.

·   Pl 1,4-6.8-11: (9) Điều tôi khẩn khoản nài xin, là cho lòng mến của anh em ngày thêm dồi dào, khiến anh em được ơn hiểu biết và tài trực giác siêu nhiên, (10) để nhận ra cái gì là tốt hơn. Tôi cũng xin cho anh em được nên tinh tuyền và không làm gì đáng trách, trong khi chờ đợi ngày Đức Kitô quang lâm.


·   TIN MỪNG: Lc 3,1-6

Ông Gioan Tẩy Giả rao giảng 



(1) Năm thứ mười lăm dưới triều hoàng đế Tibêriô, thời Phongxiô Philatô làm tổng trấn miền Giuđê, Hêrôđê làm tiểu vương miền Galilê, người em là Philípphê làm tiểu vương miền Iturê và Trakhônít, Lyxania làm tiểu vương miền Abilên, (2) Khanan và Caipha làm thượng tế, có lời Thiên Chúa phán cùng con ông Dacaria là ông Gioan trong hoang địa. (3) Ông liền đi khắp vùng ven sông Giođan, rao giảng, kêu gọi người ta chịu phép rửa tỏ lòng sám hối để được ơn tha tội, (4) như có lời chép trong sách ngôn sứ Isaia rằng: Có tiếng người hô trong hoang địa: hãy dọn sẵn con đường cho Đức Chúa, sửa lối cho thẳng để Người đi. (5) Mọi thung lũng, phải lấp cho đầy, mọi núi đồi, phải bạt cho thấp, khúc quanh co, phải uốn cho ngay, đường lồi lõm, phải san cho phẳng. (6) Rồi hết mọi người phàm sẽ thấy ơn cứu độ của Thiên Chúa.



CHIA SẺ

Câu hỏi gợi ý:

1. Thiên Chúa nói với Gioan, mời gọi ông cộng tác với Ngài vào kế hoạch cứu độ của Ngài. Thế còn chúng ta? Ngài có mời gọi ta làm gì không? Ta có nghe thấy Ngài mời gọi ta làm gì không? Nếu không thì tại ta hay tại Ngài?

2. Gioan mời gọi mọi người sám hối. Sám hối là gì? Sám hối chỉ hoàn toàn mang tính cá nhân hay còn mang tính tập thể nữa?

3.  Đời sống con người có nhiều mặt, muốn sám hối để cải thiện đời sống thì sám hối về mặt nào sẽ giúp con người cải thiện được nhiều nhất?

Suy tư gợi ý:

1. Gioan Ty Gi được Thiên Chúa kêu gọi

Gioan Tẩy Giả được Thiên Chúa kêu gọi một cách rất đặc biệt. Trước khi ông sinh ra, đã có những biến cố kỳ lạ liên quan đến ông. Cha ông đã gặp thiên sứ hiện ra trong Đền Thờ báo tin việc ra đời của ông, rồi cha ông bị câm vì cứng tin; mẹ ông mang thai ông trong tuổi già; và cha ông chỉ hết câm khi đặt tên cho ông (x. Lc 1,5-25.57-80). Khi ông đến tuổi trưởng thành, Kinh Thánh viết về ông: «Có lời Thiên Chúa phán cùng con ông Dacaria là ông Gioan trong hoang địa» (Lc 3,2). Và ông đã đáp lại tiếng gọi của Thiên Chúa, đã  ra đi, rao giảng về Nước Trời, chuẩn bị hay dọn đường cho Đức Giêsu, Đấng Cứu Tinh nhân loại, đến trần gian. Ông đã chu toàn ơn gọi một cách hết sức nhiệt thành, đến nỗi đã chết một cách rất anh hùng vì ơn gọi của mình (x. Mt 14,3-12; Mc 6,17-29).



2.  Thiên Chúa cũng kêu gọi chúng ta

Ơn gọi của Gioan thì như thế. Còn ơn gọi của chúng ta thì sao? − Để cứu rỗi nhân loại và làm cho con người được hạnh phúc, và để thiết lập Nước Trời, Thiên Chúa cần rất nhiều người cộng tác. Một số người nghe được tiếng Ngài mời gọi cộng tác. Ai đáp lại thì cũng đều do Ngài kêu gọi và được thánh hóa (x. Rm 8,30). Nhưng Ngài thường không mời gọi một cách minh nhiên, rõ rệt bằng lời nói theo kiểu người đời mời gọi một ai đó cộng tác với mình. Người được Ngài mời gọi, ban đầu, thường cảm thấy một cách mơ hồ có một khuynh hướng hướng về Ngài, về công việc của Ngài. Khuynh hướng ấy ngày càng trở nên mạnh mẽ và rõ nét cho đến một hôm nó trở thành một lời mời gọi rõ rệt từ bên trong. Khuynh hướng này có trở nên mạnh mẽ và rõ rệt hay không, điều ấy còn tùy thuộc vào lòng nhiệt thành và quảng đại của ta trong những lần Chúa mời gọi ta thực hiện những công việc nho nhỏ trong những tình huống xảy ra thường ngày. Người nào không làm theo tiếng lương tâm, không đáp lại tiếng Ngài trong những trường hợp cụ thể của đời sống, sẽ không cảm thấy Ngài kêu gọi mình trong những công việc lớn hơn.

Rất nhiều người không được mời gọi cộng tác trong công việc của Ngài chỉ vì họ không nghe được tiếng Ngài. Nếu ta không nghe được tiếng Ngài,  chính vì ta chẳng mấy khi chịu im lặng để lắng nghe tiếng Ngài vang vọng trong thâm tâm ta. Thực ra Ngài vẫn nói, vẫn kêu gọi mọi người, nhưng nhiều người chẳng thèm nghe vì còn bận quan tâm đến những chuyện của trần gian. Nhiều lần như thế, tiếng Ngài ở trong ta ngày càng yếu ớt, và đến một lúc nào đó tiếng Ngài như tắt hẳn. Như vậy, không phải Ngài không nói mà vì lỗ tai tâm linh của ta đã bị điếc, không còn khả năng nghe thấy tiếng Ngài nữa. Và ta bị điếc cũng tại vì ta không muốn nghe, hay không muốn đáp lại lời mời gọi của Ngài.

3.  Gioan Tẩy Giả kêu gọi sám hối

Trước khi Đức Giêsu đến với trần gian, Thiên Chúa kêu gọi Gioan Tẩy Giả dọn đường cho Ngài, bằng cách mời gọi mọi người sám hối, biểu lộ lòng sám hối bằng một nghi thức bên ngoài rửa tội. Sám hối nhận ra những tội lỗi, khuyết tật, sai sót của mình để quyết tâm sửa đổi hầu trở nên tốt lành thánh thiện hơn. Nếu sám hối không dẫn đến tình trạng tốt đẹp hơn, thì sám hối đó chỉ sám hối hời hợt, ngoài miệng… Nếu thực hiện nghi thức sám hối bên ngoài (như rửa tội, xưng tội…) trong lòng không thật tâm sám hối thì đó chỉ việc làm lấy lệ hay giả dối.

Sám hối được thực hiện chủ yếu trong nội tâm chứ không chỉ qua những nghi lễ bên ngoài. Có thể sám hối thật sự mà không cần những nghi thức bên ngoài, và cũng có những người thực hành những nghi thức bên ngoài mà chẳng hề sám hối ở bên trong. Nếu sám hối thật sự thì việc sám hối phải tất yếu dẫn đến hành động cải thiện thật sự. Ngôn sứ Isaia tả sự sám hối ấy bằng những hình tượng khác nhau: «Hãy dọn sẵn con đường cho Đức Chúa, sửa lối cho thẳng để Người đi. Mọi thung lũng, phải lấp cho đầy, mọi núi đồi, phải bạt cho thấp, khúc quanh co, phải uốn cho ngay, đường lồi lõm, phải san cho phẳng» (Is 40,4; Lc 3,5).

4.  Sám hối một cách cụ thể là gì?

Điều quan trọng để đón Chúa đến là phải có tinh thần sám hối. Tinh thần sám hối không nằm ở chỗ cảm thấy đau buồn vì những lầm lỗi sai phạm của mình cho bằng việc xét lại bản thân để xác định được những khuyết điểm, tật xấu, những tư tưởng hành vi không đúng, không tốt trong quá khứ, và nhất là quyết tâm sửa chữa. Khi xét về những sai lỗi, ta thường nghĩ đến những hành vi gây hại cho người hoặc mình, cho gia đình, cho xã hội hoặc Giáo Hội, điều đó đúng, nhưng không đủ… Đọc đoạn Tin Mừng về ngày phán xét của Chúa (x. Mt 25,31-46), ta thấy Thiên Chúa chủ yếu phán xét ta về việc ta làm hoặc không làm cho tha nhân. Trong đoạn Tin Mừng ấy, kẻ bị kết án dường như chỉ vì không làm những việc mà tha nhân cần ta làm trong thế kẹt hay hoàn cảnh cấp bách của họ. Chúa nói: «Vì xưa Ta đói, các ngươi đã không cho ăn; Ta khát, các ngươi đã không cho uống; Ta là khách lạ, các ngươi đã không tiếp rước; Ta trần truồng, các ngươi đã không cho mặc; Ta đau yếu và ngồi tù, các ngươi đã chẳng thăm viếng» (Mt 25,42-43). Qua đoạn Tin Mừng này, ta thấy dường như Thiên Chúa chỉ kết án thái độ «vô cảm», nghĩa là thờ ơ, không thèm quan tâm trước sự đau khổ, trước tình trạng bị áp bức bất công, trước những nhu cầu khẩn thiết của tha nhân cần đến sự can thiệp hay giúp đỡ của ta.

Sám hối đích thực nhất thiết phải dẫn tới một sự thay đổi, một sự cải thiện thật sự. Sám hối mà sau đó không có sự cải thiện nào, thì chỉ là sám hối giả tạo. Sự thay đổi hay cải thiện này phải được thực hiện trên nhiều bình diện: quan niệm, tư tưởng, thái độ, hành động, cách cư xử, v.v...

5. Sám hối quan trọng nhất là sám hối về những quan niệm sai lầm

Bình diện quan trọng nhất cần phải thay đổi, đó là thay đổi những quan niệm sai lầm của mình. Vì quan niệm sai sẽ dẫn đến suy nghĩ sai, suy nghĩ sai sẽ dẫn đến thái độ và hành động sai, hành động sai sẽ dẫn đến những hậu quả xấu, tai hại cho mình hoặc tha nhân… Rất nhiều khi ta quan niệm sai mà ta không biết. Năng đọc và suy gẫm Thánh Kinh để biết quan niệm của Thiên Chúa, để đối chiếu quan niệm của Ngài với quan niệm của ta, ta sẽ biết là ta quan niệm sai hay đúng. Chẳng hạn:

− Đọc đoạn Tin Mừng Mt 25,31-46, ta thấy: quan niệm của ta không đúng khi cho rằng nếu cả đời mình không làm hại ai thì mình ắt hẳn là người tốt, là công chính... Nhưng theo đoạn Tin Mừng này thì người được Thiên Chúa đánh giá là tốt, là công chính, chẳng những đã không làm hại ai, mà còn làm những gì tốt đẹp cho tha nhân, nhất là khi họ lâm vào tình trạng khẩn cấp cần được cứu giúp.

− Đọc đoạn Tin Mừng Mt 5,23-24, ta thấy: khi mình với tha nhân còn có chuyện giận ghét nhau, thì việc đi làm hòa với tha nhân được Thiên Chúa coi trọng hơn cả việc dâng của lễ trên bàn thờ. Điều này trái với quan niệm thông thường của ta, vì ta coi việc dâng của lễ quan trọng hơn rất nhiều so với sự hòa thuận cần có với tha nhân.

− Đọc đoạn thư của thánh Phaolô gửi tín hữu Côrintô 1Cr 13,1-3 ta mới thấy tình yêu đối với tha nhân còn quan trọng hơn cả đức tin, và những việc làm dù có tốt lành đến đâu nếu không xuất phát từ tình yêu thương đích thực thì cũng chẳng có giá trị gì. Điều này cũng rất ngược với quan niệm bình thường của ta vốn coi đức tin quan trọng hơn đức ái rất nhiều, và ta thường đánh giá rất cao những hành động tốt của ta cũng như của người khác mà không xét đến động lực thúc đẩy ta làm hành động ấy có phải là tình yêu đối với Thiên Chúa và tha nhân hay không.

Còn rất nhiều đoạn Thánh Kinh khác, nếu thường đọc và suy gẫm, ta sẽ thấy quan niệm của Thiên Chúa khác với quan niệm của ta rất nhiều. Do đó, trong tinh thần sám hối, ta cần chỉnh lại quan niệm của ta sao cho phù hợp với quan niệm của Thiên Chúa. Đây mới chính là sự sám hối cần thiết nhất.

6. Sám hối phải được thể hiện thành hành động sửa sai,
nơi cá nhân cũng như trong xã hội

Sám hối đích thực phải dẫn đến sự chừa cải, tu sửa, cải thiện… Nói khác đi, có gì sai thì phải sửa cho đúng, xấu thì sửa cho tốt cho đẹp, cong thì sửa thành thẳng, gồ ghề thì sửa thành phẳng, cao thì bạt xuống, thấp phải đôn lên…

Việc sám hối và tu sửa phải được thực hiện không chỉ nơi cá nhân mà còn trong giáo hội và xã hội.

Nơi cá nhân: cá nhân nào cũng đều có những tật xấu, khuyết điểm, tính vị kỷ, kiêu căng, tham lam, đố kỵ, ghen ghét, lười biếng, hèn nhát, v.v… Mỗi lần mùa Vọng đến, để đón Chúa một cách thực tế, ta nên xác định một tật xấu hay khuyết điểm nào đó để quyết tâm sửa sai. Nếu mỗi mùa Vọng ta sửa được một tật xấu, một quan niệm sai lầm, thì khi đón Chúa đến vào cuối cuộc đời, Chúa sẽ rất hài lòng với ta.

Trong giáo hội và xã hội: giáo hội hay xã hội nào cũng đều có bất công: với những cơ chế phát sinh bất công, với những luật lệ phi lý, những quan niệm sai lạc, những lạm dụng quyền bính, những hủ tục, những tệ nạn… tất cả đều làm cho con người trong tập thể đau khổ, trì trệ, không phát triển, v.v… Ngày Chúa đến, Ngài không chỉ xét đoán các cá nhân, mà xét đoán cả các quốc gia, các tôn giáo, các nền văn hóa, các xã hội và giáo hội… nữa.

Hiện nay, trong đời sống tâm linh và tu đức, rất nhiều Kitô hữu chỉ nghĩ tới việc nên thánh cá nhân, sự cứu rỗi cá nhân, mà quên đi chiều kích giáo hội và xã hội của ơn cứu rỗi và sự nên thánh. Họ quan niệm việc nên thánh hay cứu rỗi của họ có thể thực hiện một mình, độc lập với những người chung quanh… Nghĩa là họ có thể nên thánh, được cứu rỗi mà không cần nghĩ gì đến xã hội và giáo hội, bất chấp đến những bất công, trì trệ, hay những thành quả tốt đẹp của giáo hội và xã hội. Họ cho rằng họ có thể nên thánh và được cứu rỗi mà không cần để ý đến xã hội hay những người chung quanh xem họ có nhu cầu gì, đau khổ hay hạnh phúc ra sao.

Thiết tưởng tinh thần cốt yếu của Kitô giáo là tình yêu, một tình yêu trải rộng đến mọi người không phân biệt bạn thù, giàu nghèo, giai cấp, v.v… Tiêu chuẩn cuối cùng để Thiên Chúa xét đoán sự công chính của mỗi người là tình yêu họ dành cho tha nhân (x. Mt 25,31-46). Nên sự sám hối cũng như sự tu sửa của người Kitô hữu để đón Chúa đến phải chủ yếu nhắm đến tình yêu, đến sự quan tâm của mình đối với tha nhân, đối với giáo hội, xã hội, quê hương, đất nước và toàn nhân loại.

Trong chiều hướng đó, câu «Hãy dọn sẵn con đường cho Đức Chúa, sửa lối cho thẳng để Người đi. Mọi thung lũng, phải lấp cho đầy, mọi núi đồi, phải bạt cho thấp, khúc quanh co, phải uốn cho ngay, đường lồi lõm, phải san cho phẳng» (Lc 3,5) không chỉ áp dụng cho bản thân mỗi cá nhân mà còn cho cả giáo hội và xã hội nữa.

7.  Ý thức sám hối mang tính giáo hội và xã hội

Tất cả mọi Kitô hữu đều trách nhiệm biến cải giáo hội hội nên tốt hơn, nghĩa phải sửa sai, phải thay đổi những chưa đúng, hoặc có hại trong giáo hội hội. Trong dân gian câu: «Giặc đến nhà, đàn phải đánh», hay «quốc gia hưng vong, thất phu hữu trách» (kẻ kém cỏi nhất trong đất nước cũng trách nhiệm về sự thịnh suy của đất nước). Cũng thế, mọi Kitô hữu giáo dân hay linh mục tu sĩ, thất học hay trí thức, tất cả đều trách nhiệm đối với sự phát triển hay suy thoái của giáo hội hội. Những Kitô hữu tỏ ra tâm, tình, trách nhiệm đối với tha nhân, với hội, đất nước, thế giới, với giáo hội địa phương, cũng như với giáo hội hoàn vũ, cần phải suy xét lại thái độ tình ấy của mình. Rất thể ta chưa phải Kitô hữu đích thực, chưa đủ tình yêu đối với tha nhân,một phẩm tính căn bản của người Kitô hữu.

CẦU NGUYỆN

Lạy Cha, xin Cha giúp con thực hiện lời kêu gọi sám hối của Gioan Tẩy Giả, cụ thể là mở rộng tấm lòng hẹp hòi của con ra. Xin cho con biết ôm cả thế giới, cả giáo hội, cả quê hương vào lòng, để con biết quan tâm đến những vấn đề rộng lớn, biết ý thức chia sẻ trách nhiệm chung với mọi người trước lịch sử của đất nước, của giáo hội và thế giới. Xin đừng để con quá hững hờ, làm ngơ hay dửng dưng vô trách nhiệm trước những biến cố đau thương hay sự hưng thịnh của đất nước, của giáo hội và thế giới.                         


(Nguyễn Chính Kết)

Thứ Bảy, 28 tháng 11, 2015

Vong-01-C


HIỂU & SỐNG TIN MỪNG


Chúa Nhật thứ I Mùa Vọng
(Năm B − ngày 15-11-2015)




ĐỌC LỜI CHÚA




TIN MỪNG: Mc 13,33-37


Phải tỉnh thức và sẵn sàng 

(33) Khi ấy, Đức Giêsu nói với các môn đệ: «Anh em phải coi chừng, phải tỉnh thức, vì anh em không biết khi nào thời ấy đến. (34) Cũng như người kia trẩy phương xa, để nhà lại, trao quyền cho các đầy tớ của mình, chỉ định cho mỗi người một việc, và ra lệnh cho người giữ cửa phải canh thức. (35) Vậy anh em phải canh thức, vì anh em không biết khi nào chủ nhà đến: Lúc chập tối hay nửa đêm, lúc gà gáy hay tảng sáng. (36) Anh em phải canh thức, kẻo lỡ ra ông chủ đến bất thần, bắt gặp anh em đang ngủ. (37) Điều Thầy nói với anh em đây, Thầy cũng nói với hết thảy mọi người là: phải canh thức!» 


CHIA SẺ

Câu hỏi gợi ý:

1. Nếu biết trong tuần tới kẻ trộm sẽ đến nhà bạn, không biết vào lúc nào, ngày hay đêm, bạn có làm gì khác lạ hơn bình thường không? Tại sao?

2. Tỉnh thức nghĩa là là gì? Cho một vài thí dụ khác nhau về tỉnh thức.

3. Để tỉnh thức theo tinh thần bài Tin Mừng hôm nay, một cách cụ thể thì phải làm những gì?


Suy tư gợi ý:


1. Nếu tôi biết tuần này kẻ trộm sẽ đến nhà tôi, thì…

Chúng ta thử xét một cách thật nghiêm túc xem: phản ứng, tư tưởng và thái độ của ta sẽ thế nào khi được báo tin chắc chắn rằng một bọn trộm cướp đã dự định đến «thăm» nhà ta tuần này. Được tin ấy, thử hỏi ban đêm ta còn ngủ yên như mọi khi được không? Nếu ta đoán kẻ trộm cũng có thể đến cả vào ban ngày nữa, thì ta có đề phòng cả ban ngày không? Ta có dám bỏ nhà đi đâu xa vào những ngày này, và giao phó nhà cửa cho đám con cái còn bé nhỏ chưa kinh nghiệm không? – Nếu đoán biết kẻ trộm sẽ đến, chắc chắn ta sẽ gia tăng đề phòng, không để cho chúng lấy đi của ta bất kỳ đồ vật gì. Muốn đề phòng hữu hiệu, ta phải canh thức liên tục, không ngừng nghỉ. Ngừng đề phòng lúc nào là kẻ trộm có thể đến lúc ấy, nhất là vào những lúc chúng biết ta mệt mỏi, lơ là. Nếu đề phòng liên tục, chắc chắn kẻ trộm sẽ thất bại.

Chỉ vì sợ mất của cải vật chất chóng qua mà ta đã lo canh phòng như vậy, lẽ nào mạng sống tâm linh của ta, của cải tâm linh của ta, là cái quí hơn hàng trăm ngàn lần, ta lại không lo lắng canh giữ? 



2. Cách sống hiện tại quyết định số phận vĩnh cửu

Số phận vĩnh cửu của ta tùy thuộc cách sống hiện tại của ta. Cuộc sống hiện tại trong thời gian là mầm nảy sinh cuộc sống vĩnh cửu mai sau. Mầm tốt sẽ trở thành cây tốt, mầm xấu sẽ trở thành cây xấu (x. Mt 7,17-18). Do đó, cách ta sống, và quan trọng hơn nữa là «cái tâm», hay «tấm lòng» mà ta hình thành hay luyện tập được trong cuộc sống hiện tại, sẽ quyết định tương lai vĩnh cửu của ta.

Cuộc sống vĩnh cửu đã bắt đầu ngay trong cuộc sống hiện tại, và định hình vĩnh viễn ngay khi ta chấm dứt cuộc sống tạm bợ này, nghĩa là ngay khi ta chết. Nhưng ta chết lúc nào? Không ai biết được! Những người chết trong hai tòa nhà cao tầng ở New York ngày 11-9-2001, hay những nạn nhân cuộc khủng bố của ISIS tại Paris ngày 13/11/2015 vừa qua, không ai ngờ trước được rằng hôm ấy là ngày tận số cuộc đời mình. Không ngờ được vì thấy rằng còn gì bảo đảm an toàn hơn khi ở trong những tòa nhà kiên cố ấy, hoặc có cả một mạng lưới an ninh bảo vệ? Thế mới biết tai họa hay cái chết có thể đến bất kỳ lúc nào, trong bất kỳ hoàn cảnh nào, ở bất kỳ nơi nào. Đối với cái chết, chẳng lúc nào, chẳng nơi nào, chẳng tình trạng sức khỏe nào là an toàn cả! Thật đúng như thánh Phaolô nói: «Khi người ta nói: “Bình an biết bao, yên ổn biết bao!” thì lúc ấy tai họa sẽ thình lình ập xuống» (1Tx 5,3). Cái chết đến quả thật như kẻ trộm! không thể biết trước hay đoán trước được lúc nào, cách nào, và thế nào! Tuy nhiên, chết lúc nào, cách nào không phải là chuyện quan trọng. Vấn đề hết sức quan trọng chính là: số phận đời sau của mình thế nào? 

Số phận của chúng ta đời sau chính là kết quả của cách sống đời này. Nếu đời này chúng ta sống vị tha, yêu thương mọi người đúng theo bản chất của mình là «hình ảnh của Thiên Chúa» cũng là «con cái Thiên Chúa», thì đời sau chúng ta sẽ được sống trong một môi trường đầy yêu thương, được gần gũi với chính Thiên Chúa của Tình Thương. Trái lại, nếu đời này ta sống ích kỷ, ít tình thương, không tình nghĩa, thường lãnh đạm, nhạt nhẽo, ganh ghét, hận thù… với tha nhân, thì đời sau chúng ta sẽ phải sống trong một môi trường không có tình thương, đầy hận thù và xa cách Thiên Chúa. Điều đó xảy ra không khác gì một quy luật, luật nhân quả: «Cây tốt thì sinh quả tốt, cây xấu thì sinh quả xấu» (Mt 7,17). Tương tự như một người luôn yêu thương và vui vẻ với mọi người, dễ dàng hy sinh, sẵn sàng chịu thiệt thòi cho người khác, thì tự nhiên người ấy tạo ra chung quanh mình một bầu khí vui tươi, thoải mái, yêu thương, và những ai ở gần người ấy đều tự nhiên cảm thấy hạnh phúc và quí mến người ấy. Trái lại, một người ích kỷ chỉ nghĩ tới mình, chẳng biết yêu thương hay hy sinh cho ai, chỉ mong người khác hy sinh, chịu thiệt cho mình, tự nhiên người ấy sẽ tạo ra chung quanh mình một bầu khí ảm đạm, căng thẳng, buồn tẻ, và chẳng mấy ai cảm thấy hứng thú gì khi ở với người ấy. 


3. Điều quan trọng là «luyện cái tâm» 

Khi phán xét, Thiên Chúa sẽ căn cứ chủ yếu vào «cái tâm» của ta nhiều hơn là vào chính những hành động tốt hay xấu mà ta thực hiện được. Vì trong đời sống con người, có rất nhiều hành động tốt nhưng lại xuất phát từ một «cái tâm» xấu: chẳng hạn như những hành động giả nhân giả nghĩa, những hành động tốt chỉ để tạo uy tín, để lấy điểm trước con mắt người đời, những đóng góp rất nhiều tiền cho người nghèo nhưng không phải vì thương người nghèo mà để được khen là một người hảo tâm, tương tự như những hành động yêu thương của một chàng sở khanh chỉ nhằm chiếm đoạt được người đẹp để rồi phản bội… 

Đức Giêsu khuyên «khi bố thí, đừng cho tay trái biết việc tay phải làm» (Mt 6,3), «khi cầu nguyện, hãy vào phòng, đóng cửa lại» (6,6), vì những hành động tốt được làm «cốt để người ta khen» (6,2), «cốt cho người ta thấy» (6,5) thì không xuất phát từ «cái tâm» tốt, và «đã được thưởng công rồi» (6,2b). Thánh Phaolô cũng xác định những hành động tốt nhưng không xuất phát từ «cái tâm» yêu thương thì chẳng có giá trị gì trước mặt Thiên Chúa (x. 1Cr 13,3); và ngay cả đức tin hết sức mạnh mẽ, hoặc hiểu biết thật sâu sắc về Thiên Chúa mà không có «cái tâm» yêu thương thì cũng trở thành vô ích (x. 1Cr 13,2). 

Vì thế, đừng tưởng mình sẽ được Thiên Chúa ân thưởng vì có đạo gốc, có đức tin thật mạnh mẽ, hoặc hiểu biết Thiên Chúa hơn tất cả mọi người, hoặc có vô số những hành động tốt, mà không có «cái tâm» yêu thương cho tốt. Chính Đức Giêsu đã tiết lộ rằng: «Trong ngày ấy, nhiều người sẽ thưa với Thầy rằng: “Lạy Chúa, lạy Chúa, nào chúng tôi đã chẳng từng nhân danh Chúa mà nói tiên tri, nhân danh Chúa mà trừ quỷ, nhân danh Chúa mà làm nhiều phép lạ đó sao?” Và bấy giờ Thầy sẽ tuyên bố với họ: Ta không hề biết các ngươi; xéo đi cho khuất mắt Ta, hỡi bọn làm điều gian ác!» (Mt 7,22-23). Thật vậy, nếu không chịu từ bỏ cái tâm đố kỵ, ghen ghét, hận thù, ích kỷ, sẵn sàng hại người, dễ dàng đối xử bất công với tha nhân, v.v... thì những hành động dù có tốt đến đâu mà xuất phát từ cái tâm khó ưa ấy, sẽ chẳng được coi là những hành động tốt thật sự. Với cái tâm khó ưa ấy thì khó mà vào được Thiên Đàng, nơi chỉ dành cho những người có «cái tâm» yêu thương. Những người còn cái tâm xấu mà vào được Thiên đàng thì họ sẽ biến Thiên đàng thành một nơi vẫn còn đau khổ. Họ còn phải vào «luyện ngục» để «luyện cái tâm» cho tới khi thành «cái tâm» tốt, tràn đầy yêu thương để xứng đáng và phù hợp với bản chất của Thiên đàng.



4. «Ngày của Chúa» 

Đối với mỗi cá nhân, «Ngày của Chúa» – hay ngày Chúa đến – chính là ngày ta chấm dứt cuộc đời trần thế để đến trình diện trước mặt Chúa hầu được quyết định về số phận vĩnh cửu của mình. Đối với toàn thế giới, «Ngày của Chúa» chính là ngày tận thế, ngày mà tất cả mọi người đã từng sống trên trần gian đều phải trình diện trước mặt Chúa. Ngài sẽ phán xét Giáo Hội cũng như tất cả mọi thể chế trần gian, mọi tôn giáo, mọi chủ nghĩa, mọi ý thức hệ, mọi nền văn hóa, mọi chế độ, mọi quốc gia, mọi tầng lớp, mọi giai cấp, mọi tập thể… Lúc đó mọi dân mọi nước, mọi tôn giáo, mọi nền văn hóa sẽ biết rõ ràng và dứt khoát đâu là đúng đâu là sai. Lúc đó, tất cả mọi bí mật trên thế giới, trong tất cả mọi lãnh vực, đều được tỏ lộ, phanh phui cho tất cả mọi người thấy, không một che dấu nào mà không bị hiển lộ… Trước mọi sự được tỏ bày, ai nấy đều tự mình biết mình là công chính hay tội lỗi, và công chính hay tội lỗi ở mức độ nào. Mọi người sẽ tâm phục khẩu phục khi thấy số phận của mình, của mọi người và từng người được ấn định một cách hết sức công bằng, hợp lý và quang minh.


Ngày ấy sẽ là ngày vui mừng, vinh quang cho những người thật sự công chính, vì họ sẽ được giải oan, được mọi người nhìn nhận sự trong sạch, ngay thẳng, và biết được tất cả những gì tốt đẹp của mình, đồng thời được hưởng hạnh phúc vĩnh cửu. Nhưng ngày ấy sẽ là ngày u buồn, nhục nhã, xấu hổ cho những người giả công chính, giả đạo đức, những kẻ gian ác, vì mọi giả dối, xấu xa, gian ác của họ, dù được giấu diếm kỹ càng đến đâu cũng đều bị lột trần, phanh phui trước mọi người, và số phận của họ sẽ là đau khổ muôn đời.



5. Thái độ tỉnh thức và sẵn sàng

Ngày của Chúa đến như kẻ trộm, không ai biết trước được, và là ngày qui định dứt khoát số phận đời đời của ta. Vì thế, thái độ khôn ngoan nhất của ta là luôn luôn tỉnh thức, lúc nào cũng ở trong tư thế sẵn sàng, để ngày ấy dù có bất ngờ tới đâu, cũng là ngày đem lại vinh quang và hạnh phúc vĩnh cửu cho ta. Như vậy, thái độ tỉnh thức là thái độ nào?

Tỉnh thức trái với ngủ quên, trái với tình trạng mê mải, bị thu hút bởi một sự việc gì, khiến ta quên mất điều ta phải nhớ, phải canh chừng. Một minh họa cụ thể: Nhiều khi người nhà tôi bận việc, yêu cầu tôi canh chừng ấm nước sôi. Tôi nhận lời với tất cả ý thức. Nhưng chờ lâu quá, để tiết kiệm thì giờ, tôi lại tiếp tục viết bài. Tới lúc chợt nhớ tới ấm nước thì đã quá muộn, ấm đã cạn sạch nước. Chậm một chút nữa là ấm sẽ bị cháy! Công việc đã thu hút tôi đến mức làm tôi quên canh chừng!

Tỉnh thức theo nghĩa của bài Tin Mừng hôm nay là luôn luôn ý thức được mục đích cuộc đời mình là sống xứng với phẩm giá cao cả của mình là hình ảnh và là con cái Thiên Chúa, nhờ đó đạt hạnh phúc vĩnh cửu. Điều đó đòi hỏi tôi phải sống phù hợp với tinh thần Tin Mừng là có được «cái tâm yêu thương», cụ thể nhất là yêu thương những người gần mình nhất. Điều ta cần quan tâm không chỉ là tránh gây nên những bất lợi cho tha nhân, mà còn là làm những gì họ cần ta làm cho họ. Trong đoạn Tin Mừng về ngày phán xét cuối cùng (Mt 25,31-46), ta thấy Thiên Chúa đặc biệt phán xét về những thiếu sót, những điều mà ta không làm cho tha nhân khi họ cần ta làm. Ta thường tưởng rằng mình không làm điều gì bất lợi cho tha nhân thì có nghĩa là mình vô tội, mình công chính. Nhưng thực ra khi mình không làm những việc mình phải làm hoặc có thể làm cho tha nhân, thì mình đã trở thành kẻ có tội và đáng bị kết án rồi. Cụ thể như khi đứng trước một bất công, giả như tôi lên tiếng thì bất công ấy đã không xảy ra, hoặc sự công bằng đã được trả lại cho người bị bất công, nhưng tôi đã không lên tiếng chỉ vì một sợ hãi mơ hồ nào đó. Điều đó chứng tỏ rằng tôi không có đủ tình thương. Chính những tội về thiếu sót ấy làm tôi không xứng đáng với hạnh phúc vĩnh cửu.

Chúng ta có thể trở nên «mê ngủ», mất tỉnh thức khi ta bị thu hút bởi danh, lợi, quyền, thú vui trần tục. Nhiều người mê mải tìm kiếm tiền bạc, quyền lực… đến nỗi chẳng những quên đi bổn phận mình phải làm cho tha nhân (đói cho ăn, khát cho uống, lên tiếng trước bất công…), mà còn sẵn sàng làm những điều bất lợi cho tha nhân nữa (vu khống, gây bất công, thù oán, giết người…) Bất kỳ điều gì có thể làm chúng ta say mê trong cuộc đời, thậm chí là những điều tốt (công việc, chuyện làm ăn, sở thích…), cũng có thể làm ta mất tỉnh thức. Ngay cả việc thờ phượng Chúa (dâng lễ, đọc kinh, cầu nguyện…) cũng có thể ru ngủ ta, làm ta quên cả bổn phận mình phải làm cho tha nhân. Thờ phượng Chúa kiểu này chắc chắn không phải là kiểu đẹp lòng Thiên Chúa, Ngài rất nhờm tởm kiểu thờ phượng này (x. Is 1,11-19). Đáng lẽ việc thờ phượng Thiên Chúa đích thực phải giúp ta ý thức đến bổn phận của ta đối với tha nhân một cách hữu hiệu. Vậy, một cách cụ thể, tỉnh thức chính là luôn luôn ý thức, quan tâm làm những việc mình phải làm hoặc có thể làm cho tha nhân.


CẦU NGUYỆN


Lạy Cha, thì ra có rất nhiều điều có thể làm con mê ngủ, không tỉnh thức. Điều làm con rất ngạc nhiên là ngay cả những đam mê tốt lành như đam mê đi lễ, đam mê cầu nguyện, đam mê làm tông đồ, đam mê làm ăn… có thể làm con quên đi bổn phận mà con phải làm đối với những người chung quanh con: cha mẹ, anh chị em, vợ con, bạn bè, hàng xóm… Con có bổn phận rất quan trọng là phải làm cho họ nên tốt lành và được hạnh phúc. Xin Cha đừng để những đam mê tốt lành ấy làm con mất tỉnh thức.


(Nguyễn Chính Kết)